• Lịch sử hình thành

SƠ LƯỢC LỊCH SỬ 35 NĂM HỘI NGƯỜI MÙ VIỆT NAM

1969 - 2004

------------------------------------

HOÀN CẢNH VÀ SỰ RA ĐỜI CỦA HỘI NGƯỜI MÙ VIỆT NAM

Ở miền Bắc, dưới thời thuộc Pháp người mù luôn bị coi là những người thừa của cả gia đình và xã hội, họ không được học hành và luôn phải chịu sự ghẻ lạnh hắt hủi của xã hội. Để có được miếng ăn hàng ngày, không ít người đã phải đi ăn xin hoặc âm thầm sống nhờ sự cưu mang của gia đình. Tuy nhiên với trí óc và các giác quan khác phát triển bình thường nên nhiều người đã quyết chí vươn lên tự lập cuộc sống bằng chính khả năng của mình. Nhiều người đã học nghề tẩm quất, học hát xẩm và cả nghề bói toán … có người đã trở thành nghệ nhân xẩm nổi tiếng, thợ tẩm quất điêu luyện…

Đặc biệt từ năm 1943 khi ông Nguyễn Chí Thiện là 1 trong 5 học sinh giỏi nhất của trường giành cho người mù ở Sài Gòn cùng vợ tình nguyện ra Hà Nội vận động quyên góp mở trường dạy cho trẻ em mù thì người mù ở miền Bắc bắt đầu được tiếp cận với chữ Braille từ ngày ấy.

Sau khi cuộc kháng chiến chống Pháp thắng lợi, đất nước tạm thời chia cắt làm 2 miền. Ở miền Bắc dưới chế độ XHCN – Trong hoàn cảnh kinh tế còn rất nhiều khó khăn do hậu qua chiến tranh nhưng người mù nói riêng và những người tàn tật nói chung đã được Đảng và Nhà nước quan tâm giúp đỡ. Ngoài trường Thương binh hỏng mắt do Nhà nước thành lập từ năm 1955 ở 139 Nguyễn Thái Học Hà Nội, vào năm 1960, Ban Dân chính Trung ương đã thành lập trường dạy nghề và tổ chức sản xuất cho người mù ở Bắc Giang. Trường tiếp nhận khoảng gần 100 người mù cô đơn, khó khăn dạy nghề làm đinh, đan lát … Do nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan chỉ 3, 4 tháng sau trường giải thể. Cũng từ năm 1960 trong phong trào xoá mù chữ, bổ túc văn hoá nhiều người mù (nhất là những người mù ở Hà Nội) đã tìm đến các lớp học ban đêm để học tập. Khoảng 40 thanh niên, thiếu niên mù được vào học chương trình bổ túc văn hoá cấp I ở trường chữ nổi Ba Đình. Một số người đã được vào học ở một số trường Đại học hệ tại chức.

Được học tập, được tiếp nhận những thông tin về người mù các nước XHCN, người mù Việt Nam càng khát khao có được tổ chức riêng của mình.

Năm 1946 – Do bị thất bại nặng nề trong cuộc chiến tranh cục bộ ở miền Nam, Mỹ đã tiến hành cuộc chiến tranh phá hoại leo thang ra miền Bắc. Trong khi cuộc kháng chiến chống Mỹ ngày càng gay go, ác liệt, thì ngày 26/11/1966 Chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà đã ban hành Thông tư 202/CP về chính sách đối với những người già cả, trẻ mồ côi không nơi nương tựa và người tàn tật. Trong thông tư này đã nhấn mạnh đến việc thành lập Hội người mù. Điều này đã đáp ứng lòng mong mỏi của những người tàn tật nói chung và người mù nói riêng.

Tháng 7/1968 Bộ Nội Vụ đã cử ông Thái Cầm là chuyên viên của Vụ Cứu Trợ đến tiếp xúc với các ông Nguyễn Công Tiễu, Huỳnh Đình Thảo, Đinh Thuyên, Trần Công Nhuận để thông báo chủ trương của Nhà nước cho phép thành lập Hội.

Tháng 8/1968 - Ông Lê Văn Đại, Vụ trưởng Vụ Cứu Trợ đã chủ trì cuộc họp tại Văn phòng Bộ Nội Vụ với một số người mù tiêu biểu trong đó có cả những thương binh, các nhà khoa học và cán bộ viên chức Nhà nước để phổ biến chủ trương thành lập Hội. Cuộc họp đã cử ra một Ban trù bị thành lập Hội Người mù Việt Nam do ông Nguyễn Công Tiễu uỷ viên BCH TW Hội phổ biến khoa học kỹ thuật Việt Nam, một nhà khoa học bị hỏng mắt rất am hiểu người mù. Người mà từ năm 1951 không còn là hội viên Hội đồng khảo cứu khoa học Đông Dương đã xuất bản cuốn Quốc ngữ “Chữ Mù” Alphabet Braill pour les aveugle Vietnamiens để người mù có thể tự học chữ Braille, làm trưởng ban. Ông Huỳnh Đình Thảo thương binh hỏng mắt là phó Ban.

Sau cuộc họp này, Bộ đã dự thảo Điều lệ của Hội có sự tham khảo điều lệ của Hội Người mù và kém mắt CHDC Đức. Bản dự thảo này đã được gửi cho các uỷ viên Ban trù bị thành lập Hội để tổ chức cho người mù – chủ yếu là người mù Hà Nội nghiên cứu đóng góp, bổ xung.

Ngày 16/4/1969 Bộ trưởng Bộ Nội vụ ký quyết định số 190/NV cho phép thành lập Hội Người mù Việt Nam. Ngày 17/4/1969 khi máy bay Mỹ đánh phá ác liệt miền Bắc thì Đại hội thành lập Hội Người mù Việt Nam được khai mạc trọng thể tại hội trường câu lạc bộ Thống Nhất, cạnh hồ Hoàn Kiếm trung tâm Thủ đô Hà Nội. Đại hội diễn ra trong 2 ngày 17 và 18/4 với gần 100 đại biểu đại diện cho người mù ở 3 thành phố lớn Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định và Tỉnh Hà Tây cùng nhiều đại biểu đại diện cho các cơ quan TW và Hà Nội, đại hội đã được đón ông Ung Văn Khiêm Bộ trưởng Bộ Nội vụ đến dự và phát biểu ý kiến.

Tại Đại hội các Đại biểu đã nhất trí lấy tên Hội là Hội Người mù Việt Nam. Hội có 3 cấp: Trung ương, Thành, Tỉnh và Quận, Huyện Thị hội (gọi là Chi hội). Đại hội đã bầu ra Ban Chấp hành TW gồm 11 người trong đó:

Cụ: Nguyễn Công Tiễu làm Chủ tịch

Ông: Huỳnh Đình Thảo làm Phó Chủ tịch

Ông: Đinh Thuyên làm Tổng thư ký

Sự ra đời của Hội là một dấu án lịch sử, đánh dấu một bước ngoặt cơ bản trong đời sống người mù.

Sau khi Hội người mù Việt Nam được thành lập, tháng 6/1969 Bộ Nội vụ thông báo với Hội là Chủ tịch Hồ Chí Minh tuy đang yếu mệt đã gửi lời thăm hỏi, động viên và yêu cầu Hội báo cáo với Bác về tình hình người mù. Ông Huỳnh Đình Thảo Phó Chủ tịch Hội đã gửi báo cáo lên Bác và xin phép Bác cho lấy lời dạy: “Tàn nhưng không phế” của Người làm phương châm hoạt động của Hội. Đây là lời nói của Bác với anh em thương binh tại Trường Thương binh hỏng mắt Hà Nội đêm giao thừa tết Bính Thân (1956).

Ở miền Nam năm 1968, thành lập Hội Người mù, đóng trụ sở ở số 506 đường Hồng Thập Tự (nay là Nguyễn Thị Minh Khai). Hội tập hợp được khoảng 100 người mù. Phần lớn hội viên sống dựa vào gia đình, một số đi bán vé số. Hội chỉ làm nhiệm vụ vận động kiếm tiền, cán bộ Hội không có lương. Sau giải phóng (1975) một thời gian thì giải thể.

B – Quá trình xây dựng và phát triển:

 

I – Nhiệm kỳ I (1969 – 1981)

Kiên trì, thận trọng, vững chắc bằng con đường văn hoá:

tổ chức sản xuất -  xây dựng và phát triển Hội.

Được thành lập trong hoàn cảnh đất nước có chiến tranh vô cùng ác liệt, cơ sở vật chất, trang thiết bị vô cùng thiếu thốn; trụ sở của Hội chỉ là 2 phòng trong thường Thương binh hỏng mắt ở số 139 Nguyễn Thái Học (Hà Nội) với một số tủ, bàn ghế thô sơ, cán bộ của Hội không có lương. Với tinh thần: Tất cả vì hạnh phúc của người mù, từ đầu tháng 5/1969 Ban Thường vụ cùng một số cán bộ ít ỏi của Văn phòng đã bắt tay vào triển khai công việc.

Căn cứ vào tình hình thực tế của đất nước, để thực hiện nhiệm vụ: đưa người mù vào đời sống xã hội theo Điều lệ của Đại hội đề ra, lãnh đạo Hội đã quyết định 2 phương châm hoạt động của thời kỳ này là:

1/ Thận trọng, vững chắc, nỗ lực chủ độnglà chính, viện trợ là quan trọng.

2/ Từ không đến có, từ dễ đến khó, từ nhỏ đến lớn.

Với 2 phương châm này cùng với việc tiến thành phát triển, xây dựng tổ chức ở Hà Nội và Hải Phòng, Hội đã nhanh chóng triển khai mở các lớp xoá mù chữ Braille cho người mù.

Ngày 3/7/1969 Hội đã có công văn gửi Bộ Giáo dục đề nghị giúp đỡ mở lớp học cho người mù. Cũng tháng 7/1969 TW Hội đã đề nghị ngành Thủ công nghiệp chấp nhận cho 10 cán bộ, hội viên đi học lớp quản lý kinh tế do ngành mở.

Ngày 15/1/1970 Sở Giáo dục Hà Nội cho phép thành lập một số lớp chữ nổi Bổ túc văn hoá tại trường cấp I, II Phan Chu Trinh (Hội lấy tên là Trường Nguyễn Đình Chiểu) do ông Trần Công Nhuận Uỷ viên Ban chấp hành Hội Người mù Việt Nam nguyên hiệu trưởng trường chữ nổi Ba Đình trước đây làm hiệu trưởng. Trường có 4 lớp dạy chương trình cấp cấp I cho 50 người mù từ 15 – 35 tuổi. Trường tổ chức chữ học mỗi tuần 3 buổi tối. Nhiều anh chị em ở Hà Nội, Hà Tây đã không quản ngại xa xôi, vất vả theo học đầy đủ. Do tổ chức phát triển, năm 1972 khi Thành hội Hà Nội được thành lập thì TW Hội đã chuyển giao cho Thành hội một số tổ chức hoạt động như đội văn nghệ và trường Nguyễn Đình Chiểu và một thời gian sau thì các lớp học của trường chuyển về các Quận, Huyện.

Cũng trong năm 1970 TW Hội kết hợp với Phòng Thương binh và xã hội khu phố Hoàn Kiếm mở lớp dạy chữ, dạy nghề đầu tiên cho các cháu mù trong khu phố. Các cháu được học xoá mù chữ Braille và học nghề làm tăm với thời gian 1 năm. Khi lớp học kết thúc thì tổ sản xuất 202 được thành lập.

Do nhu cầu học tập của người mù và để đáp ứng định hướng chiến lược về phát triển Hội, năm 1971 Trung ương Hội đã thành lập tổ nghiên cứu cải tiến thống nhất chữ tắt Braille Tiếng Việt gồm 20 người do ông Đinh Thuyên làm tổ trưởng. Tổ được Viện Nghiên cứu ngôn ngữ và khoa Ngữ văn trường Đại học Tổng Hợp giúp đỡ. Sau 5 năm nghiên cứu và thực nghiệm từ năm 1971 – 1975 tổ chức hoàn thành một bản chữ viết tắt Tiếng Việt rút ngắn được 40% so với chữ đủ. Hội đã ban hành hệ thống chữ tắt này trên toàn quốc. Đặc biệt chữ Braille Tiếng Việt thời gian này được trình bày khác nhau về dấu thanh. Tuy không có cuộc thảo luận nào nhưng khi đất nước thống nhất thì anh chị em ở cả 3 miền đã sử dụng cách đặt dấu như ở miền Bắc vì tiện lợi và đơn giản hơn.

Tháng 12/1972 Mỹ cho máy bay B52 đánh phá ác liệt Hà Nội, Trung ương Hội đã sơ tán về Hà Tây. Mọi hoạt động của Hội được chuyển về nông thôn. Trong khi Mỹ chủ trương đưa miền Bắc về thời kỳ đồ đá thì Hội đã mở lớp dạy chữ Braille đầu tiên cho hội viên và người mù ở xã Hiệp Thuận, huyện Quốc Oai. Cũng thời gian này chuyến hàng viện trợ đầu tiên của Hội Người mù và kém mắt CHDC Đức cho Hội Người mù Việt Nam chuyển bằng tàu biển đã cập cảng Hải Phòng. Hàng gồm có 500 bảng, dùi viết, 20 máy chữ nổi, đồng hồ và 5 tấn giấy viết giành cho người mù. Mặc dù Mỹ đang đánh phá ác liệt và phong toả cảng Hải Phòng, cán bộ sáng mắt của Hội chỉ trong một đêm đã chuyển được toàn bộ số hàng về Hà Nội phục vụ kịp thời cho việc mở lớp học. Nhờ vậy lớp thứ 2 vừa dạy chữ, vừa dạy nghề đã được Bộ Thương binh và Xã hội (Nay là Bộ LĐTB&XH) đánh giá là: Một công trình xã hội rất có ý nghĩa.

Phát huy hết kết quả và kinh nghiệm thu được trong việc dạy chữ cho người mù, để hỗ trợ đắc lực cho công tác phát triển Hội, lãnh đạo Hội ngày 15/6/1974 đã quyết định mở lớp đào tạo giáo viên trong thời gian 4 tháng và đề nghị Bộ Nội vụ giúp đỡ mở lớp.

Ngày 13/9/1974 Bộ Nội vụ đã có công văn gửi các Sở, Ty Thương binh và Xã hội Hà Nội, Hải Phòng, Hà Tây, Nam Hà, Hà Bắc, Thái Bình, Thanh Hoá, Hải Hưng yêu cầu cử người về học lớp đào tạo giáo viên do Hội mở. Ngày 28/9/1974 lớp học được khai giảng tại xã Hoàng Văn Thụ, Huyện Thanh Trì, Hà Nội. Phần lớn học viên của lớp khi về địa phương đã trở thành những giáo viên hoặc cán bộ nòng cốt xây dựng Hội.

Để đáp ứng nhu cầu học tập của người mù, năm 1974 TW Hội đã sản xuất bảng và dùi viết để cung cấp cho giáo viên và học viên nhưng do nguyên liệu được cấp là nhôm dẻo nên những bảng này dùng một thời gian đều bị sai lệch.

Song song với việc mở lớp dạy chữ, dạy nghề Hội đã chú trọng tới việc tổ chức sản xuất cho hội viên.

Về việc mở lớp dạy nghề, tổ chức sản xuất của Hội thời gian này đã có một số ý kiến của cán bộ các ngành hữu quan cho rằng: Hội viên của Hội đã là những người tàn tật, không nên bắt họ lao động, Hội không cần tổ chức sản xuất. Người mù đã có Nhà nước trợ cấp … thậm chí có người còn có quan điểm: Việc thành lập Hội chỉ là hình thức, để đối ngoại với những ý kiến đó, lãnh đạo Hội đã kiên trì thuyết phục và bảo vệ quan điểm: sự nghiệp của người mù phải do người mù đảm nhiệm và để có thể chăm sóc tốt hơn cho hội viên, giúp họ có cuộc sống ổn định, bình đẳng với xã hội thì việc tổ chức cho người mù được lao động sản xuất với những ngành, nghề phù hợp là rất cần thiết. Vì vậy Điều lệ Hội ở nhiệm kỳ I đã xác định Hội góp phần tích cực với Nhà nước trong việc tổ chức sản xuất cho người mù và tổ chức sản xuất của Hội chỉ được triển khai xen ghép với các tổ chức sản xuất khác. Để thực hiện mục tiêu này tháng 4/1970 Hội đã thành lập tổ hợp tác “Đời Mới” chuyên sản xuất các mặt hàng nhựa như: Sợi nilon, đan túi xách cho công ty Bách hoá, sợi khâu nón cho Ty lâm nghiệp Hà Tây, sợi đan cho Tổng cục thuỷ sản - Địa điểm tại 94 Đường Nam Bộ (nay là phố Lê Duẩn) và 181 Phùng Hưng (Hà Nội). Sau đó Thành hội Hà Nội đã tổ chức tổ sản xuất tăm tre an toàn (Quận Ba Đình), tổ chức sàng và nắm than cho nhà máy cơ khí Điện ảnh …

Việc tổ chức sản xuất thời kỳ này thực chất chỉ giành cho người mù Hà Nội và trong phạm vi hẹp mang tính thể nghiệm, tìm tòi.

Vấn đề người mù ở Việt Nam là vấn đề rất mới mẻ. Hội lại ra đời trong hoàn cảnh đất nước đang có chiến tranh. Để làm cho xã hội hiểu về người mù và tổ chức của mình ngay từ khi thành lập Lãnh đạo Hội đã rất chú trọng công tác tuyên truyền. Bằng việc thành lập các tổ, đội văn nghệ; tổ chức các buổi nói chuyện, xuất bản bản tin đã có tác dụng rất lớn làm cho xã hội hiểu rõ hơn khả năng của người mù… qua đó khẳng định với cộng đồng: người mù có thể hoà nhập bình đẳng với xã hội nếu có sự quan tâm, giúp đỡ của Đảng, Nhà nước và các tầng lớp nhân dân.

Ngay từ khi nghe tin Nhà nước cho phép thành lập Hội và để chuẩn bị cho Đại hội thành lập Hội Người mù Việt Nam dưới sự hướng dẫn của Nghệ sĩ Kim Sinh – Uỷ viên Ban Trù bị, các tổ văn nghệ được thành lập. Anh chị em luyện tập rất hăng say suốt 6 tháng không có lương, không có thù lao, nhiều người còn phải kiếm sống hàng ngày. Có người vai mang đàn ghi ta, lưng địu con, tay cầm gậy lần đến điểm tập.

Đêm 19/4/1969 TW Hội tổ chức công diễn văn nghệ chào mừng thành công của Đại hội lần thứ I của Hội. 63 anh chị em diễn viên mù lần đầu tiên lên sân khấu tình diễn liên tục 3 tiếng đồng hồ với rất nhiều tiết mục như: độc tấu nhạc cụ, đơn ca, tốp ca với các thể loại: chèo, cải lương, hát xẩm, nhạc mới … phần lớn do anh chị em tự biên, tự diễn. Đặc biệt có dàn đồng ca 45 người do nghệ sĩ Kim Sinh chỉ đạo.

Đêm công diễn đã gây nên sự ngỡ ngàng xúc động và để lại ấn tượng tốt đẹp trong nhân dân và giới văn nghệ sĩ thủ đô.

Để phát huy kết quả Đại hội. TW Hội đã mở một đợt tuyên truyền với xã hội về sự ra đời của Hội, tổ chức in ấn Điều lệ Hội, các tài liệu văn bản của Đại hội, giới thiệu chính sách của Đảng, Nhà nước đối với người mù, tổ chức và hoạt động của Hội. Cùng với việc tổ chức các buổi nói chuyên, trình diễn văn nghệ, tháng 3/1970 Hội đã xuất bản tờ “Tin tức hoạt động” bằng chữ Braille và chữ Việt. Tờ chữ Việt in Rônêô chủ yếu để biếu các cơ quan hữu quan. Tờ chữ Braille do không có máy in nên được anh chị em cán bộ, hội viên đánh bằng tay rồi khâu lại thành tập gửi về các địa phương.

Đến năm 1973 tờ “Tin tức hoạt động” được đổi thành bản tin.

Tháng 7/1975 nội san Đời Mới bằng chữ Braille được xuất bản thay cho bản tin.

Ngày 22/1/1972 Bộ Nội vụ có công văn gửi các Sở, Ty Thương binh và Xã hội đề nghị cung cấp tin cho tờ “Tin tức hoạt động” của Hội.

Tháng 6/1981 Hội được Uỷ ban II Hà Lan viện trợ một xưởng in chữ Braille, từ đây nội san Đời Mới được in, đóng bằng máy chất lượng tốt hơn, số trang nhiều hơn (lên tới 60 trang).

Do tình trạng kinh tế lạc hậu lại phải trải qua các cuộc chiến tranh khốc liệt nên tỷ lệ người mù ở nước ta khá cao. Để có thể chăm sóc tốt hội viên và người mù ngay từ những ngày đầu mới thành lập, lãnh đạo Hội đã rất chú trọng tới việc mở ra quan hệ quốc tế nhất là với các tổ chức đồng tật ở các nước XHCN. Ngay sau ngày 17/4/1969 Hội đã gửi công văn cho các Đại sứ quán Việt Nam ở nước ngoài đề nghị thông báo sự ra đời của Hội Người mù Việt Nam với Hội Người mù các nước XHCN như: Liên Xô, Trung Quốc, CHDC Đức, CuBa, Triều Tiên, Mông Cổ, Bungari, Ba Lan, Anbani, Hungari …

Ngày 17/2/1970 Hội Người mù và kém mắt CHDC Đức đã gửi thư mời đại diện của Hội sang thăm CHDC Đức.

Ngày 1/12/1970 GS.TS. Zakharốp Phó Chủ tịch thứ I Hội chữ thập đỏ Liên Xô đến thăm Hội và chuyển quà tặng của Hội Người mù toàn Nga cho Hội gồm đồ dùng học tập và đồ chơi thể thao. Tháng 7/1970 Hội Người mù toàn Nga gửi thư mời một đoàn đại biểu của Hội sang thăm Liên Xô.

Năm 1987 Ông Đinh Thuyên đi dự Đại hội VI của Hội Người mù và kém mắt CHDC Đức.

Nhiệm kỳ I của Hội do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan đã kéo dài trong 12 năm (1969 – 1081) trong đó có 2/3 thời gian là chiến tranh ác liệt, và ngày 3/10/1976 Hội lại chịu một tổn thất lớn là cụ Nguyễn Công Tiễu Chủ tịch Hội từ trần. Bắt đầu từ thời gian này ông Huỳnh Đình Thảo làm quyền Chủ tịch.

Nhiệm kỳ I với rất nhiều khó khăn nhưng với lòng dũng cảm, ý chí quyết tâm, năng động, sáng tạo, cán bộ, hội viên của Hội đã phát huy hết khả năng, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ đặt ra.Từ gần 100 hội viên ngày đầu thành lập, đến cuối nhiệm kỳ đã có 1.738 hội viên sinh hoạt ở 42 Chi hội (Quận, Huyện) thuộc 4 Tỉnh, Thành hội và 3 Huyện hội thực thuộc là các Thành hội: Hải Phòng, Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, Tỉnh hội: Hà Nam và Huyện hội Hoà An (Cao Bằng), khu điều dưỡng Thương binh Duy Tiên Nam Hà, khu điều dưỡng thương binh hỏng mắt Hà Nội.

Kết quả hoạt động của Hội trong nhiệm kỳ I đã là nền tảng vững chắc cho sự phát triển của Hội sau này, đồng thời đã tạo được sự tin yêu của Đảng, Nhà nước và nhân dân với Hội, tạo được niềm tin của hội viên và người mù với Đảng, Nhà nước và tổ chức của mình. Một điều không kém phần quan trọng nữa là: kết quả này đã giúp cho người mù tự tin hơn trong cuộc sống./.

 

Nhiệm kỳ II (1981 – 1987)

Đẩy mạnh phát triển tổ chức, góp phần với Nhà nước thay đổi phương thức chăm sóc người mù.

 

Tuy đạt được nhiều thành tích to lớn nhưng có thể nói: Nhiệm kỳ đầu tiên của Hội vẫn là giai đoạn tìm tòi, thể nghiệm. Ban lãnh đạo các cấp Hội vừa tìm mọi cách chăm sóc đời sống hội viên vừa dựa vào các cơ quan chức năng để khẳng định vị thế của Hội và chính vì có mục tiêu, phương pháp hoạt động đúng đắn nên Hội đã tạo được sự quan tâm giúp đỡ thường xuyên của Đảng, Nhà nước.

Sau một thời gian dài hoạt động, để tổng kết rút kinh nghiệm nhằm củng cố tổ chức, đưa hoạt động Hội lên bước phát triển mới cả về lượng lẫn về chất, lãnh đạo Hội đã quyết định tổ chức Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ II. Đại hội diễn ra trong 2 ngày từ 25 – 26/11/1981 tại Hội trường khách sạn Giảng Võ Hà Nội. Về dự Đại hội có 70 đại biểu của 4  Thành, Tỉnh hội: Hải Phòng, Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh, Hà Nam Ninh và Huyện hội Hoà An (Cao Bằng), chi hội khu Điều dưỡng thương binh Hà Nam và khu Điều dưỡng thương binh hỏng mắt Hà Nội cùng đại diện của 4 ban vận động thành Hội của các Tỉnh: Thái Bình, Quảng Ninh, Phú Khánh, Quảng Nam - Đà Nẵng. Tại Đại hội, quyền Chủ tịch nước Nguyễn Hữu Thọ đã đến dự và phát biểu ý kiến.

Sau 2 ngày làm việc Đại hội đã bầu ra  Ban chấp hành gồm 15 người, Ban chấp hành đã bầu ra Ban thường vụ gồm 3 người, trong đó:

Ông Huỳnh Đình Thảo – Chủ tịch

Ông Đinh Thuyên – PCT – Kiêm tổng thư ký

Ông Trần Công Nhuận – Uỷ viên

Nhiệm kỳ II của Hội (1981 – 1987) là nhiệm kỳ có sự phát triển mạnh mẽ về tổ chức. Ở nhiệm kỳ I trách nhiệm của xã hội đối với người mù và Hội chưa được xác định rõ ràng thì ở nhiệm kỳ II ngay trong Điều lệ sửa đổi của Hội và trong quyết định 08 ngày 1/2/1982 của HĐBT (nay là Chính phủ) đã xác định rõ là: Hội được Nhà nước “Hướng dẫn, giúp đỡ”.

Được sự quan tâm giúp đỡ ngày càng thiết thực của Đảng, Nhà nước, lãnh đạo Hội đã quyết định đẩy mạnh hơn nữa các mặt hoạt động - đặc biệt là việc mở lớp dạy chữ ở các địa phương chưa có Hội, tiếp tục thực hiện phương châm: bằng con đường văn hoá tập hợp người mù, tiến tới thành lập Hội. Do vậy, chỉ trong nhiệm kỳ đã có 9 Thành, Tỉnh hội được thành lập là: Thái Bình, Quảng Ninh, Phú Khánh, Quảng Nam - Đà Nẵng, Hà Sơn Bình, Long An, Đồng Nai, Nghệ Tĩnh, Sông Bé ra đời 4 Ban vận động thành lập Hội ở các tỉnh: Thanh Hoá, Bình – Trị – Thiên, Nghĩa Bình, Tiền Giang. Từ nhiệm kỳ I, Hội đã có hệ thống tổ chức gồm 3 cấp. Ở nhiệm kỳ II, hệ thống tổ chức của Hội đã được cấu tạo chặt chẽ, hoạt động theo qui chế rõ ràng hơn. Ở cơ quan TW Hội đã hình thành các Ban chuyên môn giúp việc cho Thường vụ.

Với tinh thần ở đâu có tổ chức Hội, ở đó có người mù phải được chăm sóc tốt hơn, Đại hội II của Hội đã quyết định lấy LĐSX làm nhiệm vụ trung tâm cho các hoạt động của Hội. Vì vậy các cấp Hội đã rất chú trọng công tác LĐSX, đặc biệt là việc thành lập các cơ sở sản xuất tập trung.

Tại Đại hội II, trong Điều lệ về LĐSX được ghi là: “Hội góp phần tích cực với Nhà nước trong việc tổ chức sản xuất cho người mù”. Nhưng trong khi thực hiện, điều này đã gây cho Hội rất nhiều khó khăn. Theo yêu cầu của đông đảo cán bộ, hội viên, lãnh đạo Hội đã báo cáo với Nhà nước thông qua Văn phòng Chính phủ và đã được sửa lại là: “Hội tổ chức quản lý các cơ sở sản xuất của người mù”, việc thay đổi này đã tạo điều kiện để Hội đẩy mạnh công tác LĐSX, nhất là việc phát triển các cơ sở sản xuất (SX) tập trung.

Với kinh nghiệm tổ chức LĐSX của thành hội Hải Phòng và Hà Nội, TW Hội đã chỉ đạo các địa phương tổ chức các cơ sở SX tập trung chủ yếu làm các nghề thủ công như: làm tăm, chổi, đan lát … Riêng Hà Nội đã sản xuất đồ nhựa, đồ điện, cao su, thu nhập của người lao động tương đối cao. Vì vậy hầu hết các Thành, Tỉnh hội đều nỗ lực xây dựng các cơ sở sản xuất. Có địa phương như: Hà Nội toàn bộ các Quận, Huyện đều có cơ sở SX – trong đó, có đến 3 cơ sở hoạt động rất hiệu quả. Điều đặc biệt là, tuy thời gian này cả nước ở trong  cơ chế bao cấp – kể cả vốn đầu tư ban đầu đến nguyên vật liệu, trừ một vài cơ sở của Hà Nội như: Tổ sản xuất 3-2, tổ 19-5, tổ Hồ Gươm sau nhiều năm hoạt động do lãnh đạo Thành hội tích cực đề xuất, tranh thủ sự giúp đỡ của các cấp, các ngành trong Thành phố nên năm 1981 Thành phố đã ban hành quyết định số 5241 chấp thuận chuyển các cơ sở sản xuất này lên thành HTX trực thuộc các cấp Hội. Do đó cơ sở mới được phân phối vật tư theo chỉ tiệu phân bổ hàng năm. Xã viên, được đong gạo chênh lệch theo ngành nghề, được cấp trang bị bảo hộ, được khám chữa bệnh miễn phí … Cũng trong thời gian này Bộ Thương binh và Xã hội và Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư Liên tịch số: 34/TTLT về miễn, giảm thuế cho các cơ sở SX của người tàn tật và Thông tư 09 về việc thành lập các xí nghiệp của người tàn tật, nhờ có các chính sách này Thành hội Hải Phòng đã thành lập được xí nghiệp 17/4 và HTX 3-2 của Hà Nội được chuyển lên thành xí nghiệp cao su 3-2.

Tóm lại tuy không được bao cấp nhưng các cấp Hội đã phát huy cao độ tinh thần chủ động, sáng tạo, tự thân vận động để xây dựng và đảm bảo hoạt động cho các cơ sở sản xuất.

Tính đến cuối nhiệm kỳ (1987) toàn Hội đã tổ chức và quản lý 60 cơ sở, trong đó có 4 xí nghiệp, 3 HTX, thu hút hơn 1.000 người mù.  Những cơ sở sản xuất của Hội không chỉ là nơi để người mù đến làm việc mà còn là nơi để Hội tổ chức cho hội viên học chữ, học nghề, sinh hoạt văn nghệ, câu lạc bộ nhằm nâng dần trình độ về mọi mặt cho hội viên.

Tuy đạt được những kết quả tốt đẹp trong hoạt động SX nhưng nhìn chung ở nhiệm kỳ này các cơ sở sản xuất của Hội đều rất nhỏ bé, cơ sở vật chất nghèo nàn, công việc đơn giản, thu nhập của người lao động quá thấp, hơn nữa việc thành lập các cơ sở SX tập trung chỉ mới thích hợp với địa bàn Thành phố, Thị xã, thị trấn. Hội chưa có biện pháp giúp đỡ về việc làm cho người mù nông thôn – nhất là vùng sâu, vùng xa.

Cùng với công tác LĐSX, để chăm lo tốt hơn đời sống cho hội viên. TW Hội đã chủ trương mở rộng quan hệ với các tổ chức xã hội, từ thiện và các tổ chức đồng tật trên thế giới. Từ năm đầu nhiệm kỳ (1981) đến năm cuối nhiệm kỳ (1987) Hội đã đón tiếp các đoàn đại diện của Hội Những người tàn tật thị lực Thụy Điển, Hội Người mù Nga, CHDC Đức, Đan Mạch, Mỹ, NaUy và các tổ chức: Uỷ ban II Hà Lan, SIDA … đồng thời Hội đã cử các đoàn đại biểu đi thăm và dự các hội nghị quốc tế như: Hội nghị quốc tế về báo chí của người mù ở CHDC Đức (1982), thăm Hội Người mù các nước Bắc Âu (1983), Tổng thư ký của Hội đi thăm và học tập ở Liên Xô (1983), hội nghị quốc tế về Hình ảnh nổi ở CHDC Đức và Tiệp Khắc (1984).

Do mở rộng quan hệ quốc tế nên trong nhiệm kỳ Hội Người mù Việt Nam đã tranh thủ được sự giúp  đỡ to lớn về vật chất của bạn bè Thế giới – cụ thể như: Sau khi viện trợ cho Hội một xưởng in chữ Brai vào năm 1981, những năm sau đó UB II Hà Lan đã cử chuyên gia sang giúp đỡ in ấn.Năm 1986, 1987 Uỷ ban tiếp tục cung cấp phụ tùng máy, nguyên vật liệu in và hàng chuyên dùng cho Hội.

Cũng trong nhiệm kỳ Hội Người mù Việt Nam đã được Hội Người mù CHDC Đức tặng một xưởng in sản xuất bàn chải, Hội Người mù toàn Nga tặng một máy ép nhựa và dụng cụ học tập, Hội Người mù Mỹ tặng hàng chuyên dùng phục vụ cho học tập, Hội Người mù khu vực Bắc Âu và Hiệp hội Người mù Thế Giới (WBU) tặng giấy viết …

Đặc biệt từ năm 1987, khi trở thành thành viên chính thức của WBU Hội càng có điều kiện để mở rộng quan hệ quốc tế và tranh thủ sự giúp đỡ của các tổ chức và Hội Người mù các nước. Nhờ sự giúp đỡ này nên cùng với việc tổ chưc SX, Hội đã có thêm điều kiện để mở các lớp xoá mù chữ ở các địa phương và đưa hoạt động khác nhu báo chí, tuyên truyền, văn nghệ … phát triển.

Trong nhiệm kỳ vào những năm 1981, 1982 TW Hội đã biên soạn ký hiệu chữ Braille dùng trong toán học, âm nhạc và biên soạn tài liệu thanh toán mù chữ và làm một số sách có hình ảnh nổi cho các cháu mù …

Ở Hà Nội, sau một thời gian lãnh đạo Thành hội tích cực đề nghị, năm 1982 UBND Thành phố đã ra quyết định thành lập trường trẻ em mù Nguyễn Đình Chiểu địa điểm trường cũng là trụ sở của Hội lúc bấy giờ ở 195 Đường Nam Bộ. Thời gian đầu việc giảng dạy cho học sinh do giáo viên của Thành hội và của ngành giáo dục cùng đảm nhiệm.

Riêng tờ báo của Hội, nhân kỷ niệm 15 năm ra “Bản tin” đầu tiên (1970), năm 1985 TW Hội đã quyết định đổi “Nội san Đời Mới” thành Tạp chí Đời Mới. Bằng sự nỗ lực, cố gắng của toàn thể cán bộ, hội viên, hoạt động của Hội ngày càng có hiệu quả do đó đã tạo được uy tín trong xã hội và tranh thủ được sự giúp đỡ của các cấp Uỷ Đảng, Chính quyền, các ban ngành và nhân dân. Một số Tỉnh, Thành, Quận huyện hội đã được cấp trụ sở, cấp kinh phí hoạt động, cử cán bộ sáng mắt giúp đỡ. Riêng TW Hội đã được Nhà nước giải quyết 25 chỉ tiêu cán bộ, công nhân cho xưởng in.

Đặc biệt công ty Xổ số kiến thiết Thủ đô đã giành một đợt vé của năm 1987 để xây dựng trụ sở TW Hội. Thứ trưởng Bộ Thương binh – Xã hội Hoàng Thế Thiện đã trực tiếp đo đạc, khảo sát 500 m2 đất ở khu điều dưỡng thương binh hỏng mắt để xây dựng trụ sở Hội.

Với kết quả hoạt động từ ngày thành lập, đặc biệt trong nhiệm kỳ II, có thể nói: Hội đã giúp Nhà nước thay đổi phương thức giải quyết vấn đề chăm lo đời sống cho người mù nói riêng – người tàn tật nói chung, đó là: chuyển từ trợ cấp, cứu tế sáng tạo điều kiện giúp đỡ để người tàn tật vươn lên tự nuôi sống mình và hoà nhập với cộng đồng.

Với thành tích xuất sắc trong hoạt động, năm 1982 Hội Người mù Việt Nam đã được Nhà nước tặng thưởng Huân chương lao động hạng III. Cùng được tặng thưởng Huân chương lao động hạng III trong năm này còn có Thành hội Hà Nội, xí nghiệp cao su 3-2, HTX Hồ Gươm (Hà Nội).

Với thành tích hoạt động của nhiệm kỳ và với những phần thưởng cao quí của Nhà nước vị thế của Hội đã được nâng lên – nhất là vào năm 1987 khi Hội được kết nạp là thành viên của MTTQVN thì tính độc lập của Hội ngày càng được xác lập vững chắc. Hội đã có đủ tư cách pháp nhân về những hoạt động của mình và có tiếng nói chính thức trên các diễn đàn cả trong nước và Quốc tế.

 

Nhiệm kỳ III (1987 – 1992)

“Xã hội hoá hoạt động”

Chủ trương đúng đắn, kết quả to lớn

 

Vào năm 1986 Đảng và Nhà nước ta đã có chủ trương đổi mới - Đặc biệt từ năm 1989 khi nền kinh tế được chuyển đổi mạnh mẽ từ cơ chế bao cấp sang kinh tế thị trường theo định hướng XHCN. Để đưa mọi hoạt động của Hội bắt kịp với nhịp độ phát triển mới của đất nước và cũng là thực hiện Điều lệ sửa đổi của nhiệm kỳ II – Ngày 20/11/1987 TW Hội quyết định tổ chức Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III tại Hội trường nhà khách TW Đảng số 8 Chu Văn An – Hà Nội. Về dự Đại hội có 102 đại biểu, đại diện cho 13 Thành, Tỉnh hội và 3 huyện hội trực thuộc. Đại hội vinh dự được đón bà Nguyễn  Thị Định Phó chủ tịch Hội đồng Nhà nước và đại diện lãnh đạo các ban ngành, đoàn thể ở TW và Hà Nội.

Ông Phó chủ tịch Hội người mù toàn Nga đã đến dự và phát biểu ý kiến chào mừng Đại hội. Đại hội đã bầu ra BCH gồm 19 uỷ viên. Sau đó BCH đã bầu ra Ban thường vụ gồm 5 người, trong đó:

Ông Đinh Thuyên – Chủ tịch

Ông Lê Hồng Thuỷ – PCT kiêm Tổng thư ký

Ông Nguyễn Hữu Vọng – PCT

Ông Trần Công Nhuận – Uỷ viên

Ông Trần Thế Tôn – Uỷ viên

Tại đại hội này ông Huỳnh Đình Thảo do sức khoẻ yếu nên xin nghỉ công tác.

Ở những năm đầu nhiệm kỳ, trong hoàn cảnh đất nước gặp muôn vàn khó khăn; Mỹ ra sức bao vây, cấm vận. Liên Xô và cả hệ thống XHCN ở Đông Âu sụp đổ. Về kinh tế chúng ta mất đi những bạn hàng, những chỗ dựa truyền thống. Đồng tiền mất giá, lạm phát tăng cao đời sống nhân dân khó khăn. Trong khi đó các thế lực phản động bên ngoài luôn tìm mọi cách để chống phá … Do những khó khăn của đất nước nên kinh phí hoạt động của các cấp Hội thời gian này rất hạn chế. Ở các cơ sở SX hàng hoá làm ra phải “tự sản, tự tiêu”, nguyên liệu không được cung cấp, người lao động không còn được cung cấp lương thực, thực phẩm theo giá bao cấp, nên đời sống của hội viên, của người lao động rất thấp. Ở nhiều địa phương, phương tiện hoạt động, cơ sở vật chất rất nghèo nàn.

Do chưa quen với kinh tế thị trường, lại gặp khó khăn khi chuyển đổi cơ chế nên hoạt động của Hội thời gian này đã có phần chững lại. Chỉ tính đến cuối năm 1981 toàn Hội chỉ 52 cơ sở SX với 882 lao động. Trong cán bộ, hội viên đã nảy sinh nhiều băn khoăn lo lắng. Nhiều câu hỏi đặt ra với lãnh đạo các cấp Hội như: Hoạt động của các cấp Hội có duy trì và phát triển lên được không? Hàng của người mù làm ra làm sao cạnh tranh được với thị trường? Các cơ sở SX của Hội liệu có tồn tại?

Trước tình hình đó nếu chỉ trông chờ vào sự bảo trợ, giúp đỡ của Nhà nước là rất khó khăn. Hơn nữa sự viện trợ của các tổ chức đồng tật quốc tế cũng chỉ mới bắt đầu và còn ít ỏi. Vì vậy, ban lãnh đạo Hội đã có chủ trương: Vừa đẩy mạnh xã hội hoá hoạt động vừa phát động cán bộ, hội viên nêu cao tinh thần khắc phục khó khăn, tìm nghề, tìm việc; khuyến khích các cơ sở SX chủ động chuyển đổi mặt hàng, tìm kiếm thị trường, nguyên vật liệu, tự tiêu thụ sản phẩm …

Để đẩy mạnh xã hội hoá hoạt động, lãnh đạo Hội đã tích cực tranh thủ sự lãnh đạo, chỉ đạo, quan tâm giúp đỡ của Đảng, Nhà nước, MTTQVN. Bộ LĐTB và XH và các bộ, ban ngành, cơ quan đoàn thể ở TW.

Ngày 19/7/1988 Bộ LĐTB và XH đã có công văn số 2495 xác định mối quan hệ bảo trợ của Nhà nước với Hội. Điều này đã giúp Hội có điều kiện mở rộng quan hệ với các cơ quan, ban ngành có liên quan.Vào năm 1989, sau khi có ý kiến gợi ý của Thượng tướng Song Hào – Bộ trưởng Bộ LĐTB và XH, lãnh đạo Hội đã chủ động đề xuất với Ban Dân vận TW tăng cường giúp đỡ Hội. Ngày 12/4/1989 Ban Bí thư TW Đảng đã ra Chỉ thị 51/CT-TW khẳng định vai trò và thành tích hoạt động của Hội Người mù Việt Nam, đồng thời chỉ thị cho các cấp, các ngành đề cao tinh thần nhân đạo, ý thức trách nhiệm giúp đỡ Hội. Chỉ thị 51/CT-TW của Đảng thật sự là động lực to lớn thúc đẩy toàn bộ hoạt động của Hội - đặc biệt là công tác phát triển tổ chức.

Và cũng nhằm đẩy mạnh xã hội hoá hoạt động, về phía nội bộ, TW Hội đã phát động các cuộc vận động trong phạm vi toàn Hội:

Tuần lễ chăm sóc người mù 1990.

Năm xoá mù chữ cho người mù 1991.

Năm việc làm cho người mù 1992.

Các cuộc vận động này đã làm cho xã hội đã hiểu rõ về Hội, về nhu cầu cháy bỏng của người mù đồng thời đã tranh thủ được sự giúp đỡ đáng kể về tinh thần và vật chất, tạo điều kiện cho Hội hoạt động.

Tháng 9/1990 Trụ sở TW Hội được khánh thành, toàn bộ cơ quan TW Hội chuyển về trụ sở mới 139b Nguyễn Thái Học Hà Nội. Từ đây các phòng ban chuyên môn có điều kiện làm việc tốt hơn, nề nếp và chuyên sâu hơn.

Cũng trong năm 1990 này, TW Hội đã tích cực đề xuất và năm 1991 đã được Nhà nước chấp thuận phân bổ cho một nguồn tiền từ quỹ SIDA (Thụy Điển) để giúp cho việc SX của Hội. TW Hội đã phân bổ số tiền này về các địa phương với chủ trương ban đầu là để xây dựng và củng cố cơ sở SX.

Sau khi nhận được tiền, lãnh đạo Tỉnh hội Thái Bình thấy cần thiết phải tạo điều kiện giúp đỡ vốn cho người mù nghèo – Vì ở Thái Bình có đến hơn 80% người mù sinh sống ở địa bàn nông thôn và làm nông nghiệp rất cần được giúp đỡ.

Giải quyết cho hội viên vay vốn, tuy có người còn băn khoăn, e ngại về hiệu quả sử dụng vốn của người mù, nhưng tin tưởng ở cách làm của Thái Bình, ngay cuối năm 1990 TW Hội đã tiến hành thí điểm cho hội viên nghèo trong toàn Hội vay vốn để làm kinh tế gia đình với hình thức tín chấp và không tính lãi. Số tiền vay là của quỹ SIDA (Thụy Điển), cùng với tiền của tổ chức CARE Úc giúp đỡ và tiền thu được qua cuộc vận động “Tuần lễ chăm sóc người mù”. Có tiền, người mù đã mua được cây, con giống, phân bón, thuốc trừ sâu và nguyên liệu cho sản xuất như: mây, tre, nứa … tạo thêm việc làm cho bản thân và gia đình.

Tính đến tháng 10/1992 toàn Hội đã có 3.176 hội viên được vay vốn với số tiền là: 714.893.000 đồng.

Việc thí nghiệm cho người mù vay vốn của Hội tuy còn rất ít ỏi nhưng đã tạo ra một luồng sinh khí mới trong các cấp Hội, tăng thêm niềm tin yêu vào Hội của mỗi cán bộ, hội viên làm cho họ phấn khởi, hăng say lao động sản xuất ổn định cuộc sống, đồng thời cũng là tiền đề để Hội phát động cuộc vận động “Năm việc làm cho người mù” vào năm 1992 và tạo đà cho công tác LĐSX của Hội phát triển ở những năm tiếp theo.

Ngoài việc giúp cho người mù nghèo được vay vốn để SX thì các cuộc vận động “Tuần lễ chăm sóc người mù”, “Năm việc làm cho người mù” cũng nhằm tạo thêm vốn cho các cơ sở SX tập trung – giúp các cơ sở đứng vững được trong cơ chế thị trường và vươn lên phát triển. Cùng với việc tạo thêm vốn, các đơn vị đã tiến hành sắp xếp lại tổ chức, giảm bớt những người không cần thiết, không sản xuất những mặt hàng khó cạnh tranh như: đồ điện, đồ nhôm, nhựa … mà chỉ chuyên sản xuất những mặt hàng phù hợp với khả năng của người mù như: đan lát, làm tăm, làm chổi … Trong sản xuất, đặc biệt chú trọng tới chất lượng, mẫu mã và hạ giá thành sản phẩm, đồng thời mở rộng các hình thức tiêu thụ và địa bàn tiêu thụ. Thời kỳ này nhiều hội viên đã vượt mọi khó khăn đi bán sản phẩm của Hội. Có hội viên ở Hà Nội đã mang tăm vào tận T/p Hồ Chí Minh bán; có hội viên ở Nha Trang mang chổi lên tận Tây Nguyên, vào các tỉnh Đồng Bằng sông Cửu Long: Long An, Đồng Tháp để tiêu thụ …

Với nhiều biện pháp sáng tạo, tích cực, đồng bộ kịp thời của TW, các Thành, Tỉnh hội và lòng quyết tâm của cán bộ, hội viên nên công tác sản xuất của Hội đã được duy trì, đến những năm cuối nhiệm kỳ đã phát triển tốt đẹp.

Tính đến tháng 10/1992 Hội đã có tổ chức và quản lý 74 cơ sở sản xuất với hơn 2.000 lao động. 74 cơ sở này đã được TW hội trợ giúp vốn với số tiền 961.000.000đ, bình quân mỗi cơ sở được trợ giúp: 11.600.000đ.

Có thể nói: Trong hoàn cảnh kinh tế rất khó khăn của đất nước, khi Nhà nước chưa có chủ trương cho người nghèo vay vốn thì việc đẩy mạnh xã hội hoá hoạt động, tích cực tạo nguồn, thí nghiệm cho hội viên nghèo vay vốn, trợ giúp cho các cơ sở sản xuất của Hội là một cách làm táo bạo, đúng đắn, kịp thời, thể hiện tính nhân văn sâu sắc với tư tưởng cao đẹp: tất cả vì hội viên, vì người mù  của tập thể lãnh đạo Hội. Hơn nữa thành công trong công việc thí nghiệm cho người mù vay vốn của Hội đã tạo thuận lợi to lớn để Hội tham gia chương trình vay vốn “quỹ quốc gia hỗ trợ việc làm” (QQGHTVL) của Nhà nước năm 1992.

Cùng với việc giải quyết cho vay vốn giúp đỡ hội viên sản xuất ổn định đời sống, các cấp Hội còn tích cực đề xuất với Đảng bộ. Chính quyền địa phương trợ cấp khó khăn, miễn giảm thuế nông nghiệp, miễn giảm chi phí học được cho họi viên nghèo và con em của họ.

Để đảm bảo chất lượng hoạt động, công tác của cán bộ Hội, năm 1989 TW Hội đã xây dựng thang lương nội bộ. Các tỉnh hội Hà Tây (1990), Tỉnh hội Thái Bình (1991) đã được Uỷ ban nhân dân tỉnh cho phép thực hiện chế độ lương theo qui định của Hội.

Trong nhiệm kỳ III cùng với công tác LĐSX, nhằm chăm sóc tốt hơn đời sống tinh thần cho hội viên, đưa công tác Hội phát triển toàn diện, vững chắc, lãnh đạo các cấp hội đã rất chú trọng tới việc nâng dần trình độ dân trí cho hội viên qua việc mở các lớp dạy chữ, dạy nghề, tăng cường các hoạt động tuyên truyền báo chí, văn nghệ, thể dục thể thao …

Năm 1991 cùng với việc Hội phát động cuộc vận động “Năm xoá mù chữ cho người mù”, Nhà nước đã phát động: thập kỷ chống mù chữ quốc gia (1991) – 2000) và đưa người mù nói riêng – người tàn tật nói chung vào diện được miễn  xoá mù chữ thì lãnh đạo Hội đã cử ông Trần Công Nhuận, UVTV, trưởng ban tuyên truyền, giáo dục của Hội lên gặp Chủ tịch HĐBT Đỗ Mười để đạt nguyện vọng của đông đảo cán bộ, hội viên mong được tham gia chương trình xoá mù chữ quốc gia. Nguyện vọng này đã được Chủ tịch HĐBT chấp thuận và sau đó Nhà nước đã công nhận việc xoá mù chữ cho người mù nằm trong chương trình xoá mù chữ quốc gia và được cấp kinh phí với mức áp dụng cho miền núi (100.000đ/người). Chỉ tính riêng năm 1991 Hội đã được Nhà nước cấp 300.000.000đ và vận động các nguồn tài trợ được 120.000.000đ. Với số tiền này các cấp Hội đã mở được 150 lớp xoá mù chữ cho 1.600 người. Một số Tỉnh, thành hội như: Hà Nội, Tp Hồ Chí Minh … còn mở các lớp học tiếng Anh, học nghiệp vụ chuyên môn …

Để đáp ứng yêu cầu về chất lượng của chương trình, năm 1991 TW Hội đã nghiên cứu, biên soạn và xuất bản 2 bộ sách giáo khoa với 2.000 cuốn xoá mù chữ mức 1 (M1) và 1.000 cuốn mức 2 (M2).

Năm 1992 được sự tài trợ kinh phí của tổ chức OXFAM Anh, TW Hội đã cùng với một cơ sở sản xuất nghiên cứu và sản xuất tại trong nước 5.000 bộ bảng viết, dùi viết và 2.000 bộ bảng tính cung cấp cho các địa phương.

Để phục vụ cho công tác xoá mù chữ, năm 1992 TW Hội đã cử cán bộ về một số tỉnh mở lớp đào tạo giáo viên tại chỗ. Và cũng năm này Giáo sư KiZuKa (Nhật Bản) cũng là người mù đã sang giúp Hội mở lớp tập huấn giáo viên về phương pháp giảng dạy cho người mù.

Với nhiều cách làm năng động, sáng tạo phù hợp từ TW đến các địa phương đã tạo nên một không khí hào hứng sôi động trong học tập của hội viên, đồng thời làm cho mỗi cán bộ, hội viên – nhất là hội viên trẻ nhận thấy được là chỉ bằng con đường học tập mới có thể LĐSX tốt, ổn định được cuộc sống, vươn lên hoà nhập với cộng đồng.

Cũng để góp phần nâng cấp trình độ dân trí cho hội viên – TW Hội đã tích cực đề nghị và năm 1988 Tạp chí Đời Mới – chữ Braille đã được Bộ VHTT cấp phép hoạt động trở thành tờ báo chính thức phục vụ người mù trong mạng lưới báo chí quốc gia. Tạp chí do ông Đinh Thuyên làm Tổng biên tập.

Tuy nội dung còn nghèo nàn, cán bộ biên tập vừa thiếu lại vừa yếu, bài vở biên tập xong lại phải đem nhờ một cán bộ của cơ quan khác tu chỉnh. Tuy vậy Tạp chí đã đem đến cho cán bộ hội viên những chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, những kiến thức về KHKT, những thông tin về hoạt động của tập thể và những cá nhân trong Hội – cùng những thông tin về Hội người mù các nước.

Năm 1991 – Liên đoàn công dân mù Úc viện trợ cho Hội một trung tâm sản xuất sách nói. Bạn đã gửi tặng máy móc thiết bị, băng từ và cử chuyên gia sang giúp lắp đặt và hướng dẫn sử dụng. Có được phòng thu băng, TW Hội đã quyết định sản xuất thí điểm tạp chí Đời Mới truyền thanh. Tuy ở giai đoạn thí điểm nhưng tạp chí đã được cán bộ, hội viên trong toàn Hội nhiệt tình đón nhận.

Như vậy đến năm 1991 Hội đã tích cực đáp ứng nhu cầu tiếp nhận thông tin của người mù qua 2 cơ quan xúc giác (sờ) và thính giác (nghe). Điều này đã làm cho người mù gần gũi với cộng đồng hơn, tự tin hơn trong cuộc sống.

Xã hội hoá hoạt động, tranh thủ sự giúp đỡ to lớn của Nhân dân trong nước, Hội vẫn chủ trương tăng cường mở rộng quan hệ quốc tế để có điều kiện chăm sóc hội viên của Hội tốt hơn.

Được sự giúp đỡ của Đảng, Nhà nước hàng năm trong nhiệm kỳ Hội đều tổ chức đón tiếp các đoàn đại biểu của các tổ chức đồng tật, các tổ chức nhân đạo và các cơ quan ngoại giao nước ngoài đến thăm, trao đổi bàn bạc phương án hợp tác, giúp đỡ hoặc trao hàng viện trợ. Năm nhiều nhất (1988 – 1989) Hội đã đón tới 12 đoàn; năm ít nhất (1991 – 1992) cũng đón tới 5 đoàn. Các đoàn tới không chỉ từ các nước XHCN như: Mông Cổ, Cu Ba, CHDC Đức, Liên Xô mà còn từ: Pháp, Hà Lan, Nhật, Tây Đức, Úc, Thụy Điển, Thái Lan, Ấn Độ, Tây Ban Nha, Phần Lan …

Cùng với việc đón tiếp các đoàn quốc tế, Hội đã tăng cường cử đại diện đi thăm quan, học tập và dự các đại hội, hội nghị của Hiệp hội người mù thế giới (WBU) và các tổ chức đồng tật ở khu vực và một số nước – cụ thể: năm 1988 dự đại hội II WBU ở Tây Ban Nha; dự hội nghị quốc tế về Thư viện cho người mù ở Úc và thăm Liên bang Nga.

Năm 1989 đi thăm Hội người mù các nước Bắc Âu, thăm Liên Xô.

Năm 1990 dự Hội nghị Quốc tế ở CHDC Đức, đi thăm Thái Lan.

Năm 1991 dự Đại hội Hiệp hội người mù khu vực Châu á - Thái Bình Dương; Thăm và dự các hội nghị ở: Nhật Bản, Thái Lan, Inđônêxia, Singapore.

Năm 1992 dự Đại hội III WBU ở Aicập, dự các hội nghị ở Kenya và thăm Philippin. Cũng trong năm này ông Đinh Thuyên Chủ tịch Hội, một mình với cây gậy trắng đã lên đường đi dự hội nghị Thế giới của những người tàn tật Vancuvơ (Canada) họp từ 22 – 26/4/1992.

Nhờ đẩy mạnh công tác đối ngoại, Hội đã tranh thủ được nguồn viện trợ to lớn, cần thiết phục vụ cho người mù như: gậy, đồng hồ nói, xe đạp đôi, máy đánh chữ nổi, sách, giấy, nguyên vật liệu in, máy dệt len, máy cuốn dây, băng từ, máy móc để sản xuất sách nói …

Đạt được thành tích to lớn trên các mặt hoạt động, vị thế của Hội ngày càng được khẳng định rõ nét trong cộng đồng. Tuy nhiên việc phát triển Hội trong cả nhiệm kỳ còn chậm. Do nhiều nguyên nhân cả chủ quan, lẫn khách quan, trong cả nhiệm kỳ chỉ có 3 tỉnh hội và 1 huyện hội trực thuộc mới được thành lập đó là: Thanh Hoá, Hà Bắc, Tiền Giang và huyện hội: Mê Linh (Vĩnh Phú). Tính đến cuối nhiệm kỳ (1992) cả nước có 16 Tỉnh, Thành Hội nhưng do Hà Nam Ninh chia tách thành Nam Hà và Ninh Bình; Nghệ Tĩnh được chia thành Nghệ An và Hà Tĩnh nên số Thành, Tỉnh hội đã là 18 và 2 chi hội trực thuộc là: Hoà An (Cao Bằng) và Mê Linh (Vĩnh Phú) với 138 chi hội và 12.000 hội viên.

Từ nhiệm kỳ III do sự phát triển Hội - đặc biệt ở các tỉnh phía Nam - để đảm bảo có sự chỉ đạo chặt chẽ kịp thời của TW Hội với các địa phương, sau khi được sự đồng ý của UBND thành phố HCM ngày 26/9/1991 Lãnh đạo Hội đã quyết định thành lập Văn phòng Đại diện ở các Tỉnh phía Nam đặt tại 185 Cống Quỳnh Quận 1, T/p HCM và cử ông Nguyễn Hữu Vọng Phó Chủ tịch Hội làm Trưởng đại diện. Một thời gian sau do ốm đau nhiều, sức khoẻ suy giảm, ông Vọng trở ra Hà Nội, TW cử ông Nguyễn Khánh – UVBCH, Chủ tịch Thành hội TP.HCM làm trưởng ban đại diện.

Có thể nói: nhiệm kỳ III của Hội với chủ trương xã hội hoá hoạt động đã tạo cho Hội bước chuyển hướng mạnh mẽ và kịp thời trước hoàn cảnh khó khăn của đất nước. Chủ trương đúng đắn, đầy tính sáng tạo này đã đáp ứng được nguyện vọng của cán bộ, hội viên và được Nhà nước, Hiệp hội người mù Thế giới và bạn bè quốc tế đánh giá cao.

Ngày 17/4/1989 tại lễ kỷ niệm 20 năm thành lập Hội, thay mặt HĐND, Chủ tịch Quốc hội Lê Quang Đạo và Chủ tịch Đoàn chủ tịch UBTWMTTQVN Nguyễn Hữu Thọ, đã trao tặng Hội Người mù Việt Nam Huân chương lao động hạng II.

Trong báo cáo của Đại hội lần thứ III, Hiệp hội người mù Thế giới họp tại Cairô (Ai cập) từ ngày 2 – 6/11/1992 do ông Pedro Zurita – Tổng thư ký Hiệp hội trình bày đã khẳng định: các Hội Người mù hoạt động có kết quả nhất trên thế giới hiện nay là: Hội Người mù Tây Ban Nha, Hội người mù Anh, Hội Người mù Nauy và Hội Người mù Việt Nam. Trong đó Hội Người mù Việt Nam hoạt động trong điều kiện rất khó khăn về tài chính.

 

IV- Nhiệm kỳ IV (1992 – 1997)

Củng cố và phát triển tổ chức bước phát triển năng động mới

Công cuộc đổi mới do Đảng lãnh đạo ngày càng thu được kết quả to lớn. Kinh tế ngày càng ổn định, phát triển; đời sống của nhân dân ngày càng được cải thiện đáng kể. Tuy nhiên đất nước vẫn còn nhiều khó khăn do hậu quả chiến tranh và thời kỳ bao cấp quá nặng nề không thể nhanh chóng khắc phục.

Đối với Hội Người mù Việt Nam, sau 3 nhiệm kỳ hoạt động đặc biệt với chủ chương xã hội hoá hoạt động ở nhiệm kỳ III, tuy đã có sự trưởng thành to lớn, đã có kinh nghiệm hoạt động trong cơ chế mới, nhưng với hoàn cảnh thực tế của đất nước, nên những qui chế, chế độ của Nhà nước với Hội chưa rõ ràng, chính sách đối với người mù về cơ bản chưa thay đổi. Vì vậy điều kiện để Hội hoạt động còn hạn chế – nhất là ở các chi hội. Cán bộ Hội chưa được đào tạo, chưa đáp ứng được yêu cầu. Do đó trong cả nhiệm kỳ III chỉ có 3 tỉnh hội mới được thành lập. Vì vậy việc có những chủ trương, biện pháp phù hợp để đảm bảo cho sự phát triển bền vững của Hội lúc này trở thành vấn đề cấp bách.

Trước những kết quả đạt được sau 5 năm hoạt động và trước những yêu cầu đặt ra. TW hội đã tổ chức Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IV ngày 25 – 27/11/1992 tại hội trường nhà khách TW Đảng số 8 Chu Văn An (Hà Nội).

Đại hội IV có 120 đại biểu, đại diện cho 20 tỉnh, thành và huyện hội trực thuộc. Các ông Vũ Oanh Uỷ viên Bộ Chính trị ĐCSVN, ông Phan Văn Khải Phó Thủ tướng Chính phủ đã đến dự và phát biểu ý kiến. Đến dự đại hội còn có các vị lãnh đạo của MTTQVN, Bộ LĐTB&XH và đại diện lãnh đạo các Bộ, ban ngành các tổ chức chính trị xã hội ở TW và Hà Nội.

Đại hội đã nhất trí UV BCH, sau đó tại phiên họp đầu tiên CBH đã bầu ra BTV gồm 7 người:

Ông Đinh Thuyên – Chủ tịch kiêm trưởng Ban TC, Ban ĐN.

Ông Lê Hồng Thuỷ – Phó CT kiêm Tổng Thư ký Trưởng Ban LĐSX.

Ông Trần Công Nhuận – Phó CT kiêm trưởng ban Tuyên truyền VHGD.

Ông Đào Soát – Chủ tịch tỉnh hội Hà Tây, phó Ban tổ chức.

Ông Đào Xuân Hùng – Chủ tịch thành hội Hà Nội là uỷ viên phó Ban LĐSX.

Ông Phan Thanh Mai – Chủ tịch thành hội Đà Nẵng – Uỷ viên phụ trách khu vực miền Trung.

Ông Nguyễn Khánh – Chủ tịch thành hội T/p HCM uỷ viên phụ trách khu vực phía Nam. Trưởng VP đại diện của Hội tại T/p Hồ Chí Minh.

Tại diễn đàn đại hội, ông Vũ Oanh thay mặt Bộ chính trị Đảng CSVN đã khằng định: “Những thành tích trong hoạt động của Hội người mù Việt Nam có thể nói là thiên anh hùng ca, một trong những biểu hiện của sức sống và sức sáng tạo mãnh liệt của toàn dân tộc VN, của truyền thống nhân ái của dân tộc VN. Hoạt động của HNMVN là một mô hình khá cụ thể, sinh động của một đoàn thể xã hội theo tư tưởng Nghị quyết 8 của TW Đảng về mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân…” và cũng tại diễn đàn đại hội Phó Thủ tướng Phan Văn Khải đã xác định: Việc giúp đỡ người mù có nhiều hình thức nhưng cách giúp đỡ cao quí nhất và cơ bản nhất là giúp cho người mù được làm việc, được lao động có ích cho mình và cho xã hội.

Đáp lại lòng tin yêu của Đảng, Nhà nước và nhân dân các Đại biểu dự đại hội đã thông qua Nghị quyết, quyết tâm đẩy mạnh hơn nữa các hoạt động cả về lượng lẫn về chất, đặc biệt là công tác củng cố và  tổ chức.

Mở đầu nhiệm kỳ, từ năm 1993 TW đã phát động năm “Củng cố và phát triển tổ chức”, cuộc vận động này được tiến hành theo 2 bước.

Bước 1: ở cấp trung ương hội và tỉnh, thành hội trong 2 năm 1993 – 1994.

Bước 2: ở cấp cơ sở (quận, huyện hội) trong 2 năm 1995 – 1996.

Hưởng ứng cuộc phát động với sự chỉ đạo chặt chẽ của TW Hội, các cấp Hội đã sắp xếp lại tổ chức, phân công chức năng, nhiệm vụ rõ ràng cho từng cán bộ nhân viên, xây dựng qui chế thi đua, khen thưởng.

Tháng 9/1993 TW Hội đã điều chỉnh thang lương nội bộ - đây cũng là cơ sở góp phần đánh giá đúng năng lực trình độ của cán bộ Hội.

Cuộc vận động này đã đưa hoạt động hội đi vào nề nếp. Cán bộ các cấp Hội đã thấy rõ vai trò, trách nhiệm của bản thân trong công việc mình đảm trách và với mong muốn hoàn thành tốt nhiệm vụ hầu hết anh chị em đã tích cực tham gia học tập chuyên môn, nghiệp vụ qua các lớp do TW và địa phương mở. Do vậy trong những năm này số lượng cán bộ văn phòng từ TW đến địa phương hầu như  không tăng (có nơi tăng không đáng kể) nhưng hoạt động vẫn được tiến hành đều đặn với chất lượng ngày càng cao.

Trước khi tiến hành cuộc vận động: “Năm củng cố và phát triển tổ chức”, số thành, tỉnh hội được hội đồng thi đua TW Hội xếp loại xuất sắc được rất ít. Năm 1993 – năm đầu nhiệm kỳ chỉ có 3 đơn vị, nhưng chỉ sau 1 năm tiến hành cuộc vận động, năm 1994 đã có 8 đơn vị xuất sắc, 7 đơn vị khá, 4 đơn vị trung bình và chỉ có 1 đơn vị là yếu.

Với các văn bản chỉ đạo của TW Hội về cuộc vận động từ các phòng ban TW Hội đến các cơ sở đã tranh thủ tốt sự lãnh đạo, chỉ đạo giúp đỡ các cấp uỷ Đảng, chính quyền, các cơ quan ban ngành, đoàn thể … Nhiều nơi đã được cấp kinh phí hoạt động ổn định được định biên cán bộ phù hợp, được giải quyết chế độ lương hoặc phụ cấp, một số địa phương được cấp ôtô, xe máy, trụ sở làm việc …

Hội tiếp tục nhận được sự giúp đỡ của các Bộ, ngành đặc biệt là Bộ Lao động Thương binh và Xã hội – là cơ quan vừa có trách nhiệm bảo trợ Hội vừa có chức năng quản lý Nhà nước về công tác Hội.

Ngày 11/4/1996 Bộ trưởng Trần Đình Hoan (sau là UV Bộ chính trị, trưởng Ban tổ chức TW Đảng) đã thăm văn phòng và làm việc với lãnh đạo TW Hội. Bộ trưởng vui mừng nhận thấy: Thời gian qua, Hội đã năng động, chủ động trong các mặt hoạt động nên đã đạt được hiệu quả cao và đem lại nhiều quyền lợi cho người mù. Tuy nhiên, Bộ trưởng cũng lưu ý Hội về tỷ lệ hội viên trong tổng số người mù còn ít, trình độ dân trí của người mù còn thấp. Bộ trưởng cũng cảm thông với những khó khăn của Hội và cho biết: Bộ sẽ tích cực tác động với các tỉnh để triển khai kế hoạch công tác của Hội. Riêng cá nhân Bộ trưởng sẽ giúp phát triển Hội ở Hải Hưng, Vĩnh Phú.

Do làm tốt công tác củng cố phát triển tổ chức nên đến cuối nhiệm kỳ đã có 6 tỉnh, thành hội mới được thành lập đó là: Thừa Thiên – Huế, Quảng Trị, Bến Tre, Bà rịa – Vũng tàu, Tây Ninh, Cần Thơ với 78 Quận, huyện hội và kết nạp mới: 14.115 hội viên. Với sự phát triển này đã nâng số tỉnh, thành có tổ chức hội lên 24. Trong nhiệm kỳ do một số tỉnh: Hà Nam, Quảng Nam, Đà Nẵng, Sông Bé được chia tách nên tổng số tỉnh, thành tính đến cuối năm 1997 đã là 28 và 2 chi hội trực thuộc là: Hòa An (Cao Bằng) Mê Linh (Vĩnh Phú): số quận huyện hội là 212 và số hội viên là 25.115 người.

Nhằm chăm sóc tốt hơn đời sống hội viên, sau một thời gian nghiên cứu với nhiều ý kiến đóng góp – năm 1994 TW đã tổ chức hội nghị bàn về hoạt động của Phân hội gồm lãnh đạo các tỉnh thành hội phía Bắc. Tại Hội nghị các đại biểu đã nhất trí: vẫn giữ nguyên hệ thống của Hội gồm 3 cấp: Trung ương, Tỉnh, Thành và Quận huyện. Do vậy phân hội không phải là một cấp hội. Tuy nhiên do tác dụng của phân hội nhất là địa bàn nông thôn, miền núi, vùng sâu, vùng xa nên các địa phương cần thiết và nhanh chóng thành lập phân hội. Phân hội từ đây đã trở thành cầu nối giữa hội viên với Hội. Nhiều phân hội đã gây được quỹ để hoạt động và chăm sóc hội viên; nhiều phân hội trưởng đã được Đảng uỷ, chính quyền xã coi là cán bộ đầu ngành trong xã.

Thành công của công tác tổ chức đã là động lực thúc đẩy toàn bộ các hoạt động của Hội.

Về công tác LĐSX trong nhiệm kỳ, lãnh đạo hội có chủ trương: Củng cố và phát triển các cơ sở sản xuất tập trung, đồng thời đẩy mạnh việc cho vay vốn phát triển kinh tế gia đình.

Với thành công của việc thí điểm cho hội viên nghèo vay vốn năm 1990, 1992 khi Nhà nước có chủ trương cho người nghèo vay vốn từ quỹ quốc gia hỗ trợ việc làm theo Nghị quyết 120/HĐBT- nay là Chính phủ. Trung ương Hội đã nhanh chóng đề xuất với Nhà nước phân bổ vốn vay cho Hội.

Có thêm nguồn vốn của Nhà nước, với kinh nghiệm có sẵn, toàn hội phấn khởi dấy lên phong trào tìm và tạo việc làm cho hội viên. Cán bộ hội trước đây chỉ làm công tác phong trào thì nay đã làm công tác quản lý. Thẩm định vốn. Chữ Brai đã thực sự trở thành phương tiện cần thiết trong việc quản lý vốn. Để bảo toàn vốn vay và giúp hội viên nghèo sử dụng đồng vốn có hiệu quả, nhiều cán bộ đã dồn hết tâm sức lăn lộn với phong trào, điển hình như anh Lê Văn Sáu – Phó Chủ tịch huyện hội Sóc Sơn (Hà Nội) đã mang gạo, thực phẩm đến ăn ở tại nhà hội viên giúp họ cách chăn nuôi lợn.

Vốn vay đến với hội người mù nghèo – có người đã ví như  “Nắng hạn gặp mưa rào”. Người mù từ đây thoát khỏi cảnh, vay nặng lãi, bán lúa non.

Có người trước đây không dám nhận ruộng khoán của HTX vì đã không có người làm, lại không có tiền thì nay đã nhận lại ruộng.

Được vay vốn, người mù luôn suy nghĩ: phải bảo toàn vốn, làm ăn có lãi, hoàn trả đúng hạn cho Nhà nước, suy nghĩ đó cũng là tâm tư, nguyện vọng, là đạo đức nếp sống của người mù. Có nhiều tấm gương rất cảm động về việc vay vốn của Hội như chị Lê Thị Kim Phương ở thôn Hoà  Bình, xã Hoà Phát huyện Hoà Vang (Quảng Nam), tháng 10/1993 chị được vay 1 triệu đồng để nuôi bò đến đầu năm 1995 không may chị lâm bệnh nặng truớc khi chết chi gọi chồng  và dặn:

Em biết em không còn sống được nữa, mà giờ đây đã đến hạn trả tiền vay cho Hội. Vậy anh và mẹ hãy bán con bò đi rồi đem tiền – cả vốn và lãi trả cho Hội nói xong chị ôm chặt đứa con nhỏ vào lòng rồi chút hơi thở cuối cùng. Làm tuần 7 ngày cho chị xong, chồng và mẹ chị đã bán bò rồi đem tiền đến trả cho Hội.

Lãnh đạo huyện hội rất cảm động chỉ nhận lại vốn, còn lãi xin được gia đình để lại thắp hương cho chị. Nhưng mẹ chị nói: “Xin các anh vui lòng nhận vì con tôi đã dặn thì chúng tôi phải làm theo cho nó vui lòng nơi chín suối!”. Những lời dặn dò của chị Phương trước lúc ra đi còn đọng mãi trong lòng cán bộ, hội viên. Không chỉ ở huyện hội Hoà Vang mà trong toàn Hội.

Được vay vốn, hội viên của Hội đã có được sức bật mới, các nơi đã dấy lên phong trào thi đua LĐSX. Nhiều gương “Người tốt việc tốt” về xây dựng kinh tế đã xuất hiện đều đặn trên báo của Hội và các phương tiện thông tin đại chúng khác.

Qua điều tra, khảo sát của hội cho thấy chỉ sau 6 năm được vay vốn, số người trong diện đói nghèo của Hội cũng giảm được 21%. Nhiều người mù nghèo được vay vốn làm ăn đã có cuộc sống ổn định, một số người đã trở lên khá giả thu nhập hàng năm từ 10- 20 triệu đồng.

Để giúp hội viên sử dụng vốn có hiệu quả, các cấp Hội đã thường xuyên cung cấp cho họ những tài liệu về kỹ thuật chăn nuôi, trồng trọt, những thông tin về KHKT và mở các lớp truyền nghề, dạy nghề cho hơn 7 ngàn người mù. Trung ương Hội đã tổ chức các hội nghị chuyên đề về sản xuất tăm.

Có một thực tế là năm 1992 khi Hội được Nhà nước cho mở kênh riêng cho người mù vay vốn thì số người vay và số tiền vay hàng năm đều tăng. Chỉ riêng năm 1993 so với năm 1992 số tiền vay đã tăng 4 lần (2.002.660.000đ), số người vay tăng gấp ba lần (2.461 người) và số dự án tăng gấp đôi (48 dự án). Cũng trong năm 1993 Nhà nước đã giảm lãi xuất vay từ 1,2% xuống còn 0,6%, thủ tục vay cũng đơn giản hơn. Điều này đã tạo thuận lợi cho công tác vay vốn của Hội giúp hội viên thêm phấn khởi, tin tưởng vào chương trình xoá đói giảm nghèo của Nhà nước.

Không chỉ với hội viên, khi được vay vốn các CSSX tập trung của Hội đã tiếp tục thích nghi và hoạt động ngày càng có hiệu quả trong cơ chế thị trường. Một số cơ sở đã tiếp nhận thêm lao động. Nhiều cơ sở đã nghiên cứu cải tiến kỹ thuật, nâng cao chất lượng, cải tiến mẫu mã hạ giá thành sản phẩm làm ra những mặt hàng tăm chuốt tròn và tăm nhọn đầu… do vậy hàng của người mù đã dần chiếm lĩnh được thị trường có nơi còn xuất khẩu như cơ sở SX của tỉnh hội Khánh Hoà đã xuất 5.000 cây chổi ra nước ngoài. Hoặc xí nghiệp 3-2 của Thành hội Hà Nội đã được chuyển thành doanh nghiệp Nhà nước được vay 100 triệu đồng từ nguồn quỹ quốc gia giải quyết việc làm theo dụ án nhỏ với lãi xuất 0,4%/tháng vì vậy trong năm 1993 xí nghiệp đã sản xuất được nhiều mặt hàng mới, đảm bảo chất lượng được khách hàng ưa chuộng như: Cao su màu, tấm trải sàn xe, ống nước chịu áp lực doanh thu năm 1993 của xí nghiệp đạt 800 trăm triệu đồng, lương bình quân của người lao động đạt 200 ngàn đồng/tháng.

Trong nhiệm kỳ IV (1992 – 1997) hội đã giải quyết cho 26.378 lượt người vay số tiền: 11.110.960.000 đồng từ nguồn quỹ QGGQVL và hàng ngàn người được vay hàng trăm triệu đồng từ vốn của địa phương và các tổ chức khác – trong đó có các tổ chức quốc tế như SIDA, NAP … Các cơ sở SX tập trung của nhiều thành, tỉnh hội cũng được cấp vốn theo QĐ 15/TTg của TTCP có nơi được cấp hàng tỷ đồng như: Thanh Hoá, Thái Bình, Hà Tây, Hà Nội.

Trong nhiệm kỳ đã thành lập thêm được 48 cơ sở SX tiếp nhận thêm 2.780 lao động. Như vậy đến cuối năm 1997 toàn hội có 100 cơ sở SX với 3.662 lao động riêng thành hội TP HCM và tỉnh hội Thanh Hoá đã thành lập CS xoa bóp bấm huyệt phục hồi sức khoẻ. Đây là nghề mới rất phù hợp với người mù. Thu nhập của người lao động ở các CS này đạt từ 300 đến 500 ngàn đồng một tháng.

Không dừng lại ở việc cho vay vốn các thành, tỉnh hội đã tìm mọi biện pháp để chăm sóc tốt hội viên như: vận động trợ cấp khó khăn, miễn giảm thuế nông nghiệp, điều hoà lương thực … Riêng thành hội Hà Nội, năm 1993 đã phát động phong trào vận động xây nhà từ thiện, cấp sổ tiết kiệm, cấp thẻ BHYT, cấp giếng nước sạch cho hội viên nghèo. Phong trào này đã được lãnh đạo thành phố đánh giá cao và được các cấp, các ngành, các cơ quan đoàn thể cùng nhân dân Hà Nội nhiệt tình ủng hộ, giúp đỡ. Do vậy, chỉ trong năm 1993 Hà Nội đã xây dựng được 80 nhà và sửa chữa được gần 50 ngôi nhà dột nát. Việc làm này của thành hội Hà Nội đã được TW Hội hết sức quan tâm. Sau khi ông Lê Hồng Thuỷ, Phó Chủ tịch Hội đến khảo sát thực tế, TW đã quyết định nhân rộng mô hình này ra toàn hội và chỉ sau 4 năm triển khai, toàn hội đã vận động xây dựng, sửa chữa được hàng ngàn ngôi nhà; tặng hơn 1000 sổ tiết kiệm với mức từ 200 – 500 ngàn đồng; cấp hơn 8000 thẻ BHYT và gần 500 giếng nước sạch cho hội viên nghèo.

Thực hiện chủ trương “Củng cố và phát triển tổ chức”, để đáp ứng yêu cầu công tác, sản xuất, việc học tập của CB, HV đã trở thành nhu cầu cấp thiết. Vào những năm 1996 – 1997 một số địa phương đã báo cáo hoàn thành chương trình xoá mù chữ đối với ngành giáo dục nên không được cấp kinh phí xoá mù chữ nữa, nhưng thực tế, người mù ở những địa phương này vẫn còn cần được xoá mù chữ. Vì vậy, lãnh đạo hội đã tích cực đề nghị với Bộ GDĐT về việc xoá mù chữ cho người mù và các cấp hội ở những địa phương này vẫn tiếp tục nhận được kinh phí để mở lớp.

Từ năm 1993 – 1997 các cấp Hội đã mở được 597 lớp xoá mù chữ cho 6000 người mù. Việc xoá mù chữ trong thời gian này không chỉ dành cho những hội viên lớn tuổi. Trước thực tế với khoảng 30 nghìn trẻ em mù trên cả nước mà đối với ngành giáo dục việc đưa các em đến trường là vô cùng khó khăn. Hơn nữa, về tương lai đây chính là đội ngũ kế cận của hội. Vì vậy, lãnh đạo hội đã quyết định bằng mọi biện pháp chăm lo đến việc học tập của các em.

Năm 1993 TW Hội đã tích cực đề xuất với Bộ GD ĐT giúp đỡ, giải quyết cho các em mù có đủ điều kiện vào học hoà nhập với trẻ em sáng mắt ở các trường phổ thông; và để các em có thể học hoà nhập được, với sự giúp đỡ của Sứ quán Úc, TW Hội đã mở thí điểm 3 lớp tiền hoà nhập (THN) cho trẻ em mù ở 3 tỉnh: Hà Bắc, Hà Tây, Hà Tĩnh. Tại các lớp này các em được PHCN, XMC Braille và học chương trình văn, toán lớp 1 và một phần lớp 2 phổ thông với thời gian 9 tháng. Các lớp học này mở ra đã gây được sự xúc động, cảm phục không chỉ của gia đình các em mà của cả các cấp các ngành và nhân dân địa phương đối với tổ chức hội. Do vậy các lớp đã nhận được sự giúp đỡ to lớn, thiết thực của những cá nhân, tập thể các cơ quan đoàn thể như: Sở GDĐT, UB bảo vệ chăm sóc trẻ em, như lớpTiền Hoà nhập của tỉnh Hà Tây khai giảng này 19/10/1993 có 14 học sinh đã được các cơ quan giúp đỡ gần 6 triệu đồng, 14 cặp sách, quần áo và 1 việt kiều ở Pháp tặng 200 Frăng. Các lớp học này đã được sự giúp đỡ, giám sát, kiểm tra của các phòng giáo dục đào tạo các địa phương. Sau 9 tháng học tập hầu hết các em đều được học hoà nhập với học sinh sáng mắt ở các trường phổ thông, nhiều em đã là học sinh tiên tiến, học sinh giỏi như các em: Bùi Thị Xuân (Bắc Giang), Nguyễn Văn Tuấn (Hà Tây) …

Thành công của 3 lớp THN thí điểm này đã nhanh chóng được phổ biến và trở thành mô hình đào tạo không thể thiếu trong Hội.

Trong năm 1994, thực thi dự án PHCN dựa vào cộng đồng do HNM Thụy Điển tài trợ cho 2 tỉnh Ninh Bình và Tiền Giang, TW Hội đã mở các lớp bồi dưỡng giáo viên cho các huyện, thị hội ở hai tỉnh này trong thời gian 20 ngày.

Cũng trong năm 1994 Hội còn nhận được sự giúp đỡ của Liên đoàn công dân mù Úc với dự án đào tạo giáo viên nữ mù ở các tỉnh Thái Bình, Long An, Hà Tây, Quảng Nam.

Với những dự án này HNM VN có thêm điều kiện để đưa công tác GD lên bước phát triển mới - đặc biệt HNM và kém mắt Na Uy năm 1993 đã cam kết tài trợ cho Hội xây dựng 1 trung tâm đào tạo PHCN cho người mù – từ năm 1994 đã đặt VP đại diện tại Hà Nội để giúp HNM Việt Nam thực hiện các dự án do phía Na Uy tài trợ.

Trung tâm Đào tạo PHCN cho người mù được khởi công xây dựng ngày 20/6/1996  đến 10/1997 hoàn thành. Ngày 20/10/1997 Trung tâm khai giảng khoá đào tạo giáo viên đầu tiên, mở đầu cho 1 giai đoạn mới tương đối chính quy của Hội. Cùng với công tác giáo dục, công tác tuyên truyền báo chí cũng được củng cố, đảm bảo hoạt động theo đúng pháp luật, thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị của Hội.

Tạp chí Đời Mới bằng băng casset sau một thời gian thí nghiệm sản xuất cùng với Tạp chí Đời Mới chữ Việt sau một thời gian chỉ được phép xuất bản 3 số đặc san, TW Hội đã tích cực đề nghị với Bộ VHTT cho phép xuất bản thường kỳ. Tháng 4/1993 cả 3 loại hình của Tạp chí gồm: Chữ Việt và băng cassette đã được Bộ VHTT cấp phép hoạt động. Tạp chí do ông Trần Công Nhuận – Uỷ viên thường vụ, Trưởng Ban Tuyên truyền văn hoá, Giáo dục TW Hội làm Tổng biên tập. Tạp chí có 2 nhà báo được cấp thẻ và gần 70 cộng tác viên. Đầu năm 1993 do khó khăn về kinh phí hoạt động, cán bộ biên tập của Tạp chí đã chủ động tranh thủ quỹ Việt Nam – Thụy Điển để phát triển văn hoá và được quỹ tài trợ 3.200 USD cho hoạt động báo chí. Cũng từ năm 1993 khi nhà nước có chủ trương tài trợ cho báo chí thì Tạp chí đã được tài trợ 20.000.000đ và do hiệu quả hoạt động, mức tài trợ trong các năm đã được tăng dần.

Để đảm bảo chất lượng hoạt động của Tạp chí, TW Hội đã rất chú trọng tới việc bồi dưỡng đội ngũ cộng tác viên (CTV). Tháng 5/1995 Tạp chí mở lớp bồi dưỡng CTV các tỉnh phía Bắc tại Hà Nội.

Tháng 6/1996 mở lớp CTV cho các tỉnh phía Nam. Ngoài ra Tạp chí còn giúp cho một số Tỉnh, Thành mở lớp bồi dưỡng CTV ngay tại địa phương như: Hải Phòng, Đà Nẵng … Sau những lớp CTV này, anh chị em đã tích cực viết tin, bài cho Tạp chí của Hội và nhiều người đã trở thành những CTV tích cực của các báo, đài ở địa phương.

Tạp chí của Hội đã ổn định được các trang mục, phục vụ tốt mục đích chính trị của Hội, đáp ứng được yêu cầu của bạn đọc và thật sự là tiếng nói, diễn đàn của người mù.

Với chủ trương đẩy mạnh công tác tuyên truyền trong cả nhiệm kỳ TW Hội đã xuất bản 9 số báo chữ  Việt, trung bình mỗi số 3.500 bản; mỗi năm phát hành 6 số báo chữ Braille và 6 số báo băng, với trung bình 650 bản/số chữ Brai và 320 bản/số băng.

Để đáp ứng yêu cầu của đông đảo người mù, nhân kỷ niệm 25 năm thành lập hội, năm 1994 Tạp chí đã xuất bản số chuyên đề giới thiệu thơ của người mù và thơ viết về người mù mang tên “Hương đêm”. Tập thơ đã được nhà thơ Vương Tâm, nhà báo Lê Hậu biên tập, nhà thơ Võ Văn Trực viết lời tựa và nhà thơ Trần Lê Văn giới thiệu tại thư viện Hà Nội có nghệ sĩ Hồng Tuyết ngâm minh hoạ. Tập thơ đã được xuất bản với số lượng trên 5.000 cuốn và được các Thành, tỉnh hội nhiệt tình đón nhận.

Cùng với việc xuất bản báo chí, để xoá đói thông tin cho hội viên, trong nhiệm kỳ TW Hội đã cấp 296 máy ghi âm cho các cấp hội; nhiều thành, tỉnh hội đã cấp rađiô cho hội viên như:

Thành hội Hà Nội cấp 657 chiếc.

Tỉnh hội Hà Tây cấp 87 chiếc.

Thành hội Tp HCM cấp 200 chiếc.

Do vậy việc đọc báo, nghe băng, theo dõi tin tức trên đài phát thanh đã trở thành nhu cầu thường xuyên của người mù. Được nâng dần trình độ dân trí, Hội đã vận động các cấp Hội và hội viên tham gia đầy đủ các chương trình của Nhà nước như: chương trình DS-KHHGĐ, sinh đẻ có kế hoạch, phòng chống tệ nạn xã hội đồng thời đẩy mạnh các hoạt động văn nghệ, TDTT chào mừng các ngày lễ, ngày kỷ niệm của địa phương và đất nước.

Năm 1995 Tỉnh hội Ninh Bình đã tổ chức Đại hội TDTT lần thứ  I tại sân vận động Thị xã gồm 2 môn bóng bàn và bóng ném với gần 70 vận động viên.

Tháng 10/1995 Thành hội Hà Nội đã tổ chức liên hoan văn nghệ “Tiếng hát niềm tin” lần thứ I với 160 diễn viên là những cán bộ, hội viên ở 9 quận, huyện hội. Anh chị em đã đem về liên hoan 41 tiết mục với nhiều thể loại như: đơn ca, ngâm thơ, độc tấu với nhiều loại nhạc cụ như: trống, oocgan, sáo, đàn bầu … Liên hoan có sự tham gia nhiệt tình của các đội văn nghệ Tỉnh hội Đồng Nai và Hà Tây.

Vào tháng 10/1996 Quận hội Hai Bà Trưng (Hà Nội) đã làm lễ ra mắt CLB Thơ Chữ nổi, đến dự có các nhà thơ, nhà văn: Phạm Hổ, Tế Hanh, Trần Lê Văn, Vũ Báo, Phan Thị Thanh Nhàn.

Nhân kỷ niệm ngày thành lập Hội 17/4 hàng năm, Thành hội TP.HCM thường xuyên tổ chức hội diễn văn nghệ với chủ đề: “Hát về Đảng quang vinh, nhân dân anh hùng”.

Trong cả nhiệm kỳ đã có 80 tổ, đội văn nghệ của các Tỉnh, Thành hội hoạt động thường xuyên. Anh chị em trong các tổ, đội văn nghệ này rất tích cực tham gia các liên hoan văn nghệ ở địa phương và biểu diễn phục vụ những ngày lễ lớn …

Các buổi thi đấu, biểu diễn này đã thu hút được hàng ngàn người tham gia, tranh thủ được sự giúp đỡ to lớn về chuyên môn, nghiệp vụ, tài chính của các nhạc sỹ, nghệ sĩ, các nhà chuyên môn, các cơ quan, ban ngành và nhân dân địa phương.

Những hoạt động văn hoá, văn nghệ của Hội đã góp phần không nhỏ đem lại niềm tin ở tương lai tốt đẹp trong cuộc sống cộng đồng của người mù và cũng làm cho xã hội hiểu rõ hơn khả năng to lớn, khát vọng vươn tới của người mù nói riêng và người tàn tật nói chung.

Có thể nói Nhiệm kỳ IV với chủ trương: củng cố và phát triển tổ chức lãnh đạo Hội, với năng động, sáng tạo của các cấp Hội và sự nỗ lực cố gắng của mỗi cán bộ, hội viên đã là một nhiệm kỳ phát triển nổi bật cả về lượng lẫn về chất của Hội sau gần 30 năm hoạt động. Và để khẳng định những thành tích mà Hội đã đạt được, đồng thời xác định vị thế của Hội trong đời sống cộng đồng, tháng 1/1998 Nhà nước đã tặng Hội Huân chương Lao động hạng nhất.

 

Nhiệm kỳ V (1997 – 2002)

Chuyển giao cán bộ lãnh đạo chủ chốt giữ

vững ổn định tiếp tục phát triển

 

Trong tình hình đất nước tiếp tục đổi mới, đời sống của nhân dân ngày càng được cải thiện. Người tàn tật nói chung – người mù nói riêng đã được Đảng, Nhà nước quan tâm giúp đỡ nhiều hơn. Để thích ứng với sự phát triển của đất nước lãnh đạo Hội đã chủ trương đổi mới hoạt động, trẻ hoá đội ngũ cán bộ nhằm đưa hoạt động Hội lên bước phát triển mới năng động hơn, toàn diện hơn. Để thực hiện mục đích này và theo Điều lệ Hội, Trung ương Hội đã quyết định tổ chức Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ V của Hội từ ngày 27 – 30/12/1997 tại nhà khách Bộ Y tế Hà Nội. Về dự Đại hội có 169 đại biểu đại diện cho 28 Thành, Tỉnh hội và 2 chi hội trực thuộc trong cả nước.

Chủ tịch nước Trần Đức Lương đã gửi thư chúc mừng Đại hội.

Phó Thủ tướng Phạm Gia Khiêm đã đến dự và phát biểu ý kiến với Đại hội.

Đến dự Đại hội còn có các vị đại diện lãnh đạo MTTTVN, các Bộ, Ban, ngành ở TW và Hà Nội.

Đại hội đã chấp nhận nguyện vọng của các ông Đinh Thuyên, Lê Hồng Thuỷ, Trần Công Nhuận là Chủ tịch và PCT TW Hội nhiệm kỳ IV do tuổi cao, sức yếu xin không tham gia công tác lãnh đạo TW Hội. Đại hội xúc động đánh giá cao những cống hiến to lớn của các ông cho sự phát triển của Hội và giao cho Ban Thường vụ khoá V nghiên cứu sự đãi ngộ thoả đáng với các ông Đinh Thuyên, Lê Hồng Thuỷ đồng thời cử ông Trần Công Nhuận làm giám đốc Trung tâm Đào tạo cán bộ PHCN.

Đại hội đã hiệp thương cử ra BCH TW gồm 21 uỷ viên, sau đó BCH đã bầu ban thường vụ gồm 7 người trong đó:

Ông Đào Soát là Chủ tịch BCH TW Hội

Ông Cao Văn Thành – Phó Chủ tịch BCH TW Hội

Bà Vũ Hồng Chín – Tổng thư ký

Ông Đào Xuân Hùng – Uỷ viên – Chủ tịch Thành hội Hà Nội.

Ông Nguyễn Khánh – Uỷ viên – Chủ tịch Thành hội TP Hồ Chí Minh.

Ông Phan Thanh Mai – Uỷ viên – Chủ tịch Thành hội Đà Nẵng phụ trách khu vực miền trung.

Ông Lê Tiếp – Uỷ viên trưởng Ban Tuyên văn giáo.

Như vậy nhiệm kỳ V của Hội, các cán bộ lãnh đạo chủ chốt trong thường trực TW Hội đã nghỉ công tác, một ban lãnh đạo mới đã được bầu ra mang tính đổi mới sâu sắc.

Khi chuyển giao cán bộ lãnh đạo chủ chốt của TW Hội cũng nảy sinh một số băn khoăn trong cán bộ, hội viên về chất lượng hoạt động của Hội nhưng với chủ trương của ban lãnh đạo mới là: không ngừng phấn đấu, khắc phục khó khăn, kế thừa và phát huy kinh nghiệm của những nhiệm kỳ trước, tiếp tục giữ vững thế ổn định, đẩy mạnh hoạt động và từng bước phát triển nên mọi công tác của Hội vẫn tiến triển tốt – Hơn nữa, tuy có sự thay đổi cán bộ lãnh đạo Hội nhưng số cán bộ sáng mắt công tác ở các Phòng Ban của TW Hội không biến động nhiều – Nhiều anh, chị em tiếp tục nêu cao ý thức trách nhiệm trong công việc, năng động, sáng tạo và tích cực đề xuất các giải pháp hoạt động điều này đã góp phần tạo thế ổn định trong Hội.

Một điều rất quan trọng nữa là sau 7 tháng diễn ra đại hội, ngày 30/7/1998 Quốc Hội đã thông qua Pháp lệnh về người tàn tật. Pháp lệnh đã tạo điều kiện to lớn cho người tàn tật nói chung, người mù nói riêng vươn lên xây dựng cuộc sống, bình đẳng với cộng đồng. Pháp lệnh là hành lang pháp lý cho Hội hoạt động đáp ứng nguyện vọng của đông đảo cán bộ, hội viên.

Một công tác quan trọng nổi bật tạo động lực phát triển trong toàn Hội bao trùm suốt nhiệm kỳ đó là từ năm 1999 Hội đã báo cáo, đề đạt với lãnh đạo Đảng chỉ thị cho các cấp, các ngành tiến hành tổng kết 10 năm thực hiện Chỉ thị 51/CT-TW của Ban Bí thư TW Đảng khoá VI về việc tăng cường giúp đỡ Hội Người mù Việt Nam.

Nhiều địa phương, nhiều Bộ, Ban, ngành đã tổ chức hội nghị tổng kết – ngày 17/3/2000 tại Hà Nội TW Hội đã phối hợp với Ban cán sự Đảng Bộ Lao động Thương binh và Xã hội, Ban Dân vận TW Đảng và MTTQVN tổ chức hội nghị tổng kết 10 năm thực hiện Chỉ thị  51 của Đảng. Đến dự có Phó thủ tướng Phạm Gia Khiêm, ông Trần Văn Đăng uỷ viên TW Đảng Tổng thư ký UBTWMTTQVN, Bà Nguyễn Thị Hằng Uỷ viên TW Đảng Bộ trưởng Bộ LĐTBXH, Ông Lê Thanh Đạo Phó Ban dân vận TW Đảng cùng đại diện lãnh đạo của các Bộ Giáo dục, Văn hoá TT, Tài chính và nhiều cơ quan đoàn thể ở Trung ương.

Qua việc tổng kết 10 năm thực hiện Chỉ thị 51 của Đảng một lần nữa, các cấp, các ngành, các địa phương đã có nhiều chuyển biến về nhận thức, nâng cao trách nhiệm trong việc tạo điều kiện giúp đỡ các hoạt động của Hội.

Phát động kết quả của việc tổng kết Chỉ thị 51/CT-TW của Đảng, Trung ương Hội tiếp tục tổ chức nhiều hội nghị để báo cáo, đề xuất với các cơ quan chức năng của Nhà nước nghiên cứu, ban hành các chính sách, qui định để tạo điều kiện nâng cao hiệu quả hoạt động của Hội, đẩy mạnh việc thành lập Hội ở những địa phương chưa có tổ chức Hội và đặc biệt là nhiều Thành, Tỉnh hội đã giải quyết được chế độ lương cho cán bộ. Trung ương Hội đã thực hiện chế độ bảo hiểm xã hội cho cán bộ chuyên trách của Hội, điều này đã giúp anh chị em an tâm, phấn khởi nhiệt tình công tác. Nhiều Thành, Tỉnh hội đã chủ động xây dựng kế hoạch, chương trình, đề án cụ thể về chăm sóc hội viên, xây dựng trụ sở, kinh phí, phương tiện hoạt động trình lãnh đạo Đảng, cơ quan trong tỉnh.

Được sự giúp đỡ to lớn, thiết thực của Đảng, Nhà nước với nhiều biện pháp phù hợp, cách làm sáng tạo của TW Hội, nên trong nhiệm kỳ V (từ tháng 1/1989 đến tháng 10/2002) Hội đã thành lập mới được 12 Tỉnh hội, 64 hội cơ sở, gần 2000 chi hội và kết nạp được 13.335 hội viên. So với chỉ tiêu của Đại hội nhiệm kỳ đề ra là phát triển 5 Tỉnh hội, từ 50 – 60 hội cơ sở và kết nạp từ 8000 – 10.000 hội viên thì công tác phát triển Hội đã vượt xa chỉ tiêu đề ra.

Kết quả đạt được của công tác phát triển tổ chức đã có tác động tích cực xuyên suốt toàn bộ hoạt động của Hội. Ngày 17/4/1999 nhân kỷ niệm 30 năm thành lập Hội, TW Hội đã phát động cuộc vận động “Xóa đói giảm nghèo cho người mù” với các biện pháp: Tổ chức cho người mù vay vốn, tạo việc làm tại gia đình; củng cố và phát triển các cơ sở sản xuất do Hội quản lý nhằm thu hút thêm lao động là người mù.

Cuộc vận động này đã được các cấp Hội và đông đảo hội viên tích cực hưởng ứng, được các cấp uỷ Đảng, cơ quan, các cơ quan, ban ngành đoàn thể nhiệt liệt hoan nghênh, ủng hộ.

Ngay sau khi phát động, TW Hội và các cấp Hội đã đẩy mạnh chương trình cho người mù vay vốn từ nguồn quỹ quốc gia hỗ trợ việc làm; nhiều Tỉnh, Thành hội còn tranh thủ được các nguồn vốn của địa phương, của các tổ chức quốc tế tạo điều kiện cho hội viên cùng gia đình chăn nuôi, trồng trọt, làm nghề thủ công, buôn bán nhỏ…

Riêng 1 số tỉnh miền nam, đặc biệt là ở Thành hội TP Hồ Chí Minh và Tỉnh hội Đồng Nai nhiều hội viên đã chọn nghề: bán vé số dạo. Anh chị em đã đến những nơi buôn bán đông đúc, những nhà hàng, quán ăn để bán vé số; Nhiều người đã có thu nhập từ 20.000đ - 40.000/ngày. Hoặc 1 số anh, chị em có khả năng ca hát, sử dụng tốt nhạc cụ đã cùng nhau đi biểu diễn ở các quán cà phê buổi tối …

Do có lòng tự trọng cao, biết quí trọng đồng vốn, nhận rõ được sự quan tâm, giúp đỡ to lớn của Đảng, Nhà nước đối với bản thân nên người mù đã rất có trách nhiệm với tiền vay. Anh chị em đã sử dụng vốn vay đúng mục đích, có hiệu quả. Việc thu hồi vốn của Hội hoạt động đạt kết quả cao, tỷ lệ nợ quá hạn thấp (dưới 1%), được Quốc hội, Chính phủ, các cấp uỷ Đảng, cơ quan, các Bộ, Ban ngành ở TW và địa phương đánh giá cao. Tính đến cuối nhiệm kỳ (tháng 12/2002) Hội đã quản lý và cho vay 21.310.960.000đ, (tăng 10.500.000.000đ so với nhiệm kỳ IV) thu hút hàng vạn lao động là người mù và người trong gia đình cùng với việc giải quyết cho hội viên vay vốn các cấp Hội đã thường xuyên mở các hội nghị, hội thảo bàn về công tác sản xuất. Từ ngày 18 – 22/3/2000 TW Hội đã tổ chức hội thảo về dạy nghề, việc làm và tiếp thị tại Hà Nội. Tại hội thảo cán bộ lãnh đạo các Thành, Tỉnh hội trong cả nước đã trao đổi kinh nghiệm, bàn bạc, biện pháp giúp đỡ nhau để đẩy mạnh sản xuất. Bên cạnh việc đẩy mạnh sản xuất Trung ương Hội đã chủ động đề xuất với Nhà nước ban hành chính sách giúp đỡ người mù và cơ sở sản xuất của Hội. Do vậy năm 2001 Bộ Y tế đã có thông tư số 11/2001/TT-BYT hướng dẫn điều kiện hành nghề dịch vụ xoa bóp trong đó Hội người mù được tham gia dịch vụ này. Bộ Tài chính có công văn số 4892/2000/TC-TCT về việc giảm thuế giá trị gia tăng cho cơ sở sản xuất kinh doanh dành riêng cho người tàn tật.

Khi có những chính sách mới ra đời Trung ương và các cấp Hội đã rà soát, củng cố các cơ sở sản xuất cho phù hợp với quy chế của Nhà nước, của Hội. Do có các biện pháp tích cực nên các cơ sở sản xuất của Hội đã đứng vững được trong cơ chế thị trường và ngày càng phát triển. Trong nhiệm kỳ V toàn Hội đã thành lập thêm được 9 cơ sở đưa tổng số cơ sở sản xuất do Hội tổ chức quản lý lên 118 – Trong đó có 04 công ty TNHH, 01 xí nghiệp, 02 Trung tâm, 19 HTX và 92 cơ sở, tổ sản xuất. Trong đó có 63 cơ sở do UBND tỉnh, UBND Huyện ra quyết định thành lập. Nhìn chung các cơ sở đều được các cơ quan ban ngành ở địa phương tạo điều kiện giúp đỡ, cấp hoá đơn tài chính, được miễn giảm thuế, được bố trí địa điểm sản xuất, hỗ trợ kinh phí xây dựng, kinh phí dạy nghề, được vay vốn… Doanh thu đến tháng 6/2002 tổng doanh thu của các cơ sở đạt: 40.122.126.488đ, lương bình quân của người lao động đạt 192.425đ/tháng. Ngoài 2 mặt hàng tăm, chổi nhiều cơ sở đã phát triển thêm các mặt hàng mới như: Nấm rơm, Nấm Linh chi, mành tre đan bảo vệ cây giống lâm nghiệp, làn ni lông, bìa vở học sinh, gậy dò đường, hương thơm… Nhờ có thêm các nghề mới, thu nhập của hội viên đã ổn định hơn. Đặc biệt trong nhiệm kỳ nhiều Tỉnh, Thành hội đã rất chú trọng tới nghề xoa bóp, bấm huyệt; nhiều cơ sở đã được thành lập; có cơ sở do Hội cơ sở hoặc Tỉnh, Thành hội quản lý, có sơ sở do cá nhân hội viên thành lập. Ngoài các cơ sở của Thành hội TP Thanh Hoá, thành phố Hồ Chí Minh hoạt động ổn định lâu năm các cơ sở của hội Đồng Nai và Tỉnh hội Thái Bình cũng đã được tỉnh hội mạnh dạn đầu tư trang thiết bị, kinh phí ban đầu và đã đi vào hoạt động rất hiệu quả.

Để đẩy mạnh cuộc vận động XĐGN cùng với việc cho vay vốn, tìm và tạo việc làm các cấp Hội tích cực tranh thủ sự giúp đỡ của các cấp các ngành, các tổ chức từ thiện và các nhà hảo tâm về tài chính, hiện vật để giúp đỡ trực tiếp cho người mù khó khăn. Tính đến tháng 6/2002 toàn Hội đã được xây tặng 623 ngôi nhà tình thương cho hội viên nghèo, sửa chữa 1428 ngôi nhà dột nát, tặng 612 sổ tiết kiệm, 15.074 thẻ bảo hiểm y tế cùng với hàng tỷ đồng trợ cấp đột xuất.

Đặc biệt các Tỉnh hội Hà Tĩnh, Đồng Nai, Bình Dương, Thừa Thiên Huế, Quảng Trị … phối hợp với trạm mắt, mổ, khám chữa mắt, trả lại ánh sáng cho hàng trăm người mù.N

Để góp phần tích cực với Nhà nước trong cuộc XĐGN, Hội gười mù Việt Nam đã tích cực tham gia chương trình DS KHHHGĐ. Từ những năm 1994, các cấp Hội luôn duy trì tốt việc thực hiện kế hoạch với UB DS các cấp tổ chức hội nghị tập huấn cho cán bộ chủ chốt về chính sách, chiến lược dân số. TW đã tổ chức các hội nghị tập huấn về dân số ở cả 3 miền. Được trang bị kiến thức về dân số nhiều địa phương đã tổ chức các câu lạc bộ về DS KHHGĐ như: “CLB không sinh con thứ 3:, “CLB gia đình hạnh phúc” và xuất bản các tài liệu bằng chữ Braille, bằng băng cassette tuyên truyền về chiến lược dân số. Do vậy trong nhiệm kỳ hầu hết hội viên trong độ tuổi sinh đẻ không sinh con thứ 3.

Bằng cách làm năng động với nhiều biện pháp đồng bộ, tích cực đời sống của người mù đã được nâng lên đáng kể. Tỷ lệ hội viên nghèo từ 52,6% đầu nhiệm kỳ giảm xuống còn 29,2% cuối nhiệm kỳ.

 

Khi hội viên được chăm sóc tốt hơn, cuộc sống ổn định hơn thì nhu cầu học tập của người mù cũng trở nên bức thiết hơn. Để đáp ứng nguyện vọng của đông đảo hội viên, TW Hội đã đề nghị Bộ Giáo dục - Đào tạo chỉ đạo các Sở GDĐT trích kinh phí giáo dục của địa phương cấp cho Hội để tổ chức các lớp xoá mù chữ Braille cho người mù vì vậy ở hầu hết các địa phương các lớp học chữ học nghề vẫn được mở với tổng kinh phí hàng trăm triệu đồng (riêng năm 2000 kinh phí xóa mù chữ là 300 triệu đồng). Chỉ tính đến cuối tháng 6/2002 các cấp Hội đã mở được 368 lớp XMC M1 và 243 lớp trình độ M2. Bình quân mỗi năm trong Hội có hơn 1000 lượt người được XMC Braille. Các Tỉnh, Thành hội còn mở rộng được 69 lớp tiền hoà nhập cho 733 trẻ em mù. Như vậy chỉ tính trong 10 năm thực hiện XMC cho người mù từ 1991 đã có 14.950 hội viên được xoá mù chữ ở các lớp M1 và m2; 800 em được học THN và gần 400 em đang học hoà nhập ở các trường phổ thông từ cấp I đến cao đẳng, Đại học. Một số em đã học và sử dụng thành thạo vi tính, ngoại ngữ… Cùng với việc dạy chữ, dạy nghề, từ khi TT đào tạo PHCN đi vào hoạt động, đến năm 2002 đã tổ chức được 19 khoá đào tạo, bồi dưỡng cho 1173 cán bộ, hội viên về công tác quản lý, công tác tư tưởng văn hoá, giáo dục, giảng dạy chữ Braille, cộng tác viên báo chí, kỹ thuật viên xoa bóp, bấm huyệt, công tác phụ nữ, hạt nhân văn nghệ … với sự giúp đỡ của học viên hành chính quốc gia, trường Y học Tuệ Tĩnh, TT đào tạo tật học của Đại học sư phạm Hà Nội… Một số Tỉnh, Thành hội đã thành lập các Trung tâm giáo dục, dạy nghề cho hội viên và người mù như: Đà Nẵng, Hà Tĩnh, Thanh Hoá, Thừa Thiên – Huế hoặc các trung tâm nuôi dạy trẻ em mù như: Thành hội TP Hồ Chí Minh, Thái Bình … và thường xuyên mở các lớp cho trẻ em mù như: Long An, Bình Dương với sự phát triển của công tác giáo dục, nhu cầu về thông tin của cán bộ, hội viên cũng ngày càng lớn, để đáp ứng nhu cầu này Tạp chí Đời Mới của Hội vẫn đảm bảo được kỳ phát hành với số lượng ngày càng tăng và thông tin ngày càng đa dạng khi ông Trần Công Nhuận thôi giữ chức Phó Chủ tịch TW Hội về làm giám đốc TT đào tạo PHCN, tháng 6/1998 được sự nhất trí của Ban văn hoá tư tưởng Trung ương, Bộ VHTT đã chấp thuận đề nghị của Hội cử ông Lê Tiếp làm Tổng biên tập Tạp chí Đời Mới. Tăng cường chất lượng của Tạp chí, TW Hội đã cho phép Tạp chí mở 03 lớp bồi dưỡng cộng tác viên cho 140 người. Nhiều anh chị em sau các lớp bồi dưỡng này đã trở thành những cộng tác viên thường xuyên cho Tạp chí của Hội và các báo, đài ở địa phương. Có người đã đoạt giải của Đài phát thanh truyền hình Việt Nam, báo Công an thành phố Hồ Chí Minh … như Nguyễn Trung Thành (Nghệ An). Năm 1999 nhân kỷ niệm 30 năm thành lập Hội Tập chí đã tổ chức cuộc thi “Tìm hiểu Tạp chí của chúng ta”. Cuộc thi đã được đông đảo cán bộ, hội viên hưởng ứng, với 1350 bài dự thi được gửi ở hầu hết các Thành, Tỉnh hội. Cuộc thi đã dấy lên phong trào tìm đọc, sinh hoạt, trao đổi về Tạp chí của Hội. Song song với sự phát triển Hội ở các địa phương Tạp chí đã tăng đáng kể số trang in và băng cassette với trên 10.000 băng.

Nhờ vậy đã có 21.4000 cán bộ, hội viên thường xuyên được đọc, nghe Tạp chí của Hội, Tạp chí đã xuất bản 4000 số báo chữ Việt mang tính hướng ngoại đồng thời phối hợp với Đài THVN sản xuất 3 phim phóng sự về các thành tích hoạt động của Hội.

Cũng để đáp ứng nhu cầu thông tin của người mù các cấp Hội đã chú trọng tới việc cung cấp sách, báo và tổ chức phòng đọc cho hội viên.

Được sự tài trợ của 1 số cơ quan, tổ chức, TW Hội đã xuất bản và cung cấp miễn phí cho các Thành, Tỉnh hội nhiều đầu sách về KHKT, tác phẩm văn học, tư liệu về người mù và góp phần cùng với thư viện Quốc gia xây dựng 2 phòng đọc cho người mù ở thư viện thành phố Hà nội và thư viện thành phố Hồ Chí Minh.

Được sự giúp đỡ của UB DSGĐTE Trung ương Hội đã xây dựng phòng đọc cho trẻ em tại trụ sở TW Hội. Các cấp Hội đã tự đánh máy được 1477 cuốn sách chữ Braille trang bị cho tủ sách ở đơn vị mình.

Nhiệm kỳ V các hoạt động văn nghệ, TDTT, câu lạc bộ cũng đã có bước phát triển mạnh mẽ nhất.

Tỉnh hội Ninh Bình với dự án PHCN dựa vào cộng đồng do Thụy Điển tài trợ tiếp tục tổ chức các hội thi thể thao. Các hội thi : Nữ công gia chánh của Tỉnh hội Đồng Nai đã gây được ấn tượng tốt đẹp trong người mù địa phương về khả năng của người mù. Câu lạc bộ Thơ của Thành hội Hà Nội hoạt động đều đặn với nhiều nội dung phong phú, thu hút hơn 100 thành viên tham gia. Đội văn nghệ Trung tâm giáo dục, hướng nghiệp trẻ em mù của Tỉnh hội Thừa Thiên – Huế với nhiều loại nhạc cụ như: Đàn nguyệt, nhị, sáo, đàn bầu … đã tham gia nhiều lễ hội lớn như Festival Huế 2002.

Trong nhiệm kỳ đã có 187 tổ, đội văn nghệ của các cấp Hội thường xuyên hoạt động. Đặc biệt năm 2002 Trung ương hội đã tổ chức liên hoan “Tiếng hát từ trái tim” lần thứ I. Liên hoan đã được Bộ VHTT các giáo sư âm nhạc, các nhạc sĩ, nghệ sĩ và nhiều cơ quan, ban ngành nhiệt tình giúp đỡ. Buổi công diễn báo cáo tại Nhà hát lớn Hà Nội đã thu được kết quả tốt đẹp. Hàng trăm huy chương các loại của Bộ VHTT đã được tặng cho các diễn viên mù không chuyên. Phó Chủ tịch nước Trương Mỹ Hoa đã gửi thư chào mừng và động viên cán bộ, hội viên, diễn viên của Hội. Buổi công diễn đã để lại những ấn tượng hết sức tốt đẹp trong lòng người dân thủ đô.

Cùng với việc đẩy mạnh các mặt hoạt động, các cấp Hội đã vận động hội viên tích cực tham gia các phong trào thi đua yêu nước, các chương trình hành động cách mạng, các hoạt động của Nhà nước, của UBTWMTTQVN, của các tổ chức, đoàn thể ở Trung ương và địa phương như: Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư, dân số KHHGĐ, phòng chống tệ nạn xã hội, ủng hộ giúp đỡ đồng bào bị thiên tai, đóng góp qu ỹvì người nghèo, quĩ khuyến học …

Công tác đối ngoại trong nhiệm kỳ tiếp tục duy trì tốt, cùng với việc tranh thủ sự giúp đỡ của Hội người mù Na Uy (NABP) về kinh phí để phát triển tổ chức Hội địa phương, nâng cấp xưởng in … Hội người mù Thụy Điển đã quyết định mở rộng dự án PHCN dựa vào cộng đồng ra 2 tỉnh mới là Quảng Ninh và Nghệ An. Đặc biệt vào năm 2000 TW Hội và số Thành, Tỉnh hội như Hải Dương, Đồng Nai, TP Hồ Chí Minh, Thừa Thiên – Huế … đã tích cực tranh thủ sự giúp đỡ của các tổ chức nhân đạo cả trong và ngoài nước để có điều kiện ứng dụng công nghệ thông tin phục vụ công tác.

Trong công tác Đối ngoại, Hội Người mù Việt Nam đã tích cực tham gia đầy đủ các hoạt động của Hiệp hội Người mù khu vực và thế giới: Tháng 6/1998, Hội đã cử đoàn đại biểu đi dự Đại hội Hiệp hội Người mù khu vực Đông á - Thái Bình Dương tại Seoul (Hàn Quốc).

Tháng 11/2000, đoàn đại biểu của Hội do ông Đào Soát – Chủ tịch hội dẫn đầu đã đi dự Đại hội Hiệp hội Người mù Thế giới tại Úc.

Tháng 12/2001, 50 đại biểu của Hội đã tham dự: Cuộc vận động 2001 – Hưởng ứng thập kỷ vì người tàn tật khu vực Châu á - Thái Bình Dương 1993 – 2002 (CAMPAIGN 2001) tổ chức tại Hà Nội. Chủ tịch Hội đã tham gia đoàn chủ tịch và có bài phát biểu quan trọng.

Tại CAMPAIGN 2001 đội văn nghệ của Hội đã biểu diễn chào mừng.

Có thể nói: Nhiệm kỳ V tuy có sự thay đổi cán bộ lãnh đạo chủ chốt của Hội, nhưng với sự nỗ lực phấn đấu của toàn thể cán bộ, hội viên, biết kế thừa và phát huy kinh nghiệm, thành công của những nhiệm kỳ trước, cùng với sự quan tâm, giúp đỡ thiết thực, hiệu quả của Đảng, Nhà nước và các lực lượng xã hội, toàn Hội đã giữ được thế ổn định và có bước phát triển mạnh mẽ.

Với những thành tích to lớn đã đạt được, toàn thể cán bộ, hội viên của Hội phấn khởi bước vào nhiệm kỳ mới.

Đẩy mạnh hoạt động, hướng về cơ sở nâng cao hiệu quả hoạt động và chất lượng cuộc sống của hội viên.

 

Nhiệm kỳ VI (2002 – 2007)

Đẩy mạnh hoạt động, hướng về cơ sở, nâng cao hiệu quả hoạt động và chất lượng cuộc sống của hội viên

 

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Hội được tổ chức từ ngày 21 đến 23/12/2002 tại 37 Hùng Vương dự Đại hội có 205 đại biểu chính thức đại diện cho 40.000 hội viên ở 40 tỉnh, thành hội trong cả nước.

Đại hội đã vinh dự được đón:

ông Đỗ Mười, nguyên Tổng Bí Thư Đảng Cộng sản Việt Nam.

Bà Trương Mĩ Hoa: Uỷ viên TW Đảng, Phó Chủ tịch nước.

Ông Phạm Gia Khiêm: Uỷ viên TW Đảng Phó Thủ tướng Chính phủ.

Ông Phạm Thế Duyệt: Chủ tịch Đoàn Chủ tịch Uỷ ban TW MTTQVN.

Cùng nhiều Đại biểu đại diện của các Ban, Ngành đoàn thể ở TW và địa phương.

Đại hội cũng vui mừng được đón ông Kua Cheng Hock Chủ tịch Hiệp hội người mù khu vực Đông á  - Thái Bình Dương và ông Vudhiranda Tinmanee Phó chủ tịch Hội Người mù Thái Lan.Tại Đại hội VI - Đại hội đầu tiên của thế kỷ 21 các đại biểu vô cùng xúc động, phấn khởi đón nhận Huân chương Độc lập hạng III của Nhà nước do Phó Chủ tịch nước Trương Mĩ Hoa trao tặng.

Phần thưởng cao quí này – một lần nữa khẳng định những thành tích to lớn mà Hội đã đạt được trong nhiều năm qua - đặc biệt trong nhiệm kỳ V.

Phát biểu với Đại hội Phó chủ tịch nước Trương Mĩ Hoa và Chủ tịch Đoàn chủ tịch UBTWMTTQVN Phạm Thế Duyệt đã biểu dương những thành tích trong các mặt hoạt động của Hội đồng thời khẳng định sự đóng góp to lớn, có hiệu quả của Hội với Nhà nước, và MTTQ trong công cuộc XĐGN, xây dựng 1 cuộc sống ấm no, hạnh phúc, một xã hội công bằng, dân chủ văn minh.

Đại hội VI đã nhất trí cử ra BCH gồm 35 uỷ viên – Sau đó BCH đã bầu 7 uỷ viên Thường vụ:

Ông Đào Soát giữ chức Chủ tịch Hội người mù Việt Nam.

Ông Cao Văn Thành: Phó Chủ tịch

Bà Vũ Hồng Chín: Phó Chủ tịch

 Ông Lê Tiếp: Uỷ viên Thường vụ Trưởng ban TVG. Giám đốc TT.

Ông Nguyễn Khánh: Chủ tịch thành hội TP Hồ Chí Minh Trưởng ban đại diện Hội người mù Việt Nam tại TP Hồ Chí Minh

Ông Đào Xuân Hùng: Phụ trách công tác kiểm tra Chủ tịch thành hội Hà Nội uỷ viên.

Ông Nguyễn Minh Hà: Uỷ viên Thường vụ Chủ tịch thành hội Đà Nẵng phụ trách khu vực miền trung – uỷ viên

Ngay từ đầu năm 2003, năm đầu của nhiệm kỳ với mục tiêu: hướng về cơ sở nâng cao hiệu quả hoạt động và chất lượng cuộc sống của hội viên, cùng với việc ban hành các văn bản về hướng dẫn thực hiện điều lệ, bổ xung, sửa đổi văn bản tiêu chuẩn BCH các cấp hội … Trung ương Hội đã chỉ đạo các BCH lâm thời của các tỉnh hội: Cao Bằng, Vĩnh Phúc, Đồng Tháp, Sóc Trăng, Đăck lăk tổ chức thành công Đại hội nhiệm kỳ I và cử nhiều đoàn đi nắm tình hình hoạt động ở các Tỉnh, Thành hội trên cả nước. Ban tổ chức Trung ương Hội cũng đã đến làm việc với các cơ quan hữu quan ở Bình Định, Lâm Đồng và Cần Thơ về việc thành lập Hội và sắp xếp cán bộ hội khi Tỉnh Cần Thơ chia tách thành TP Cần Thơ và tỉnh Hậu Giang.

Đến cuối năm 2003 đã phát triển thêm được 01 Tỉnh hội (Lâm Đồng) 28 Hội cơ sở, 42 chi hội và 8177 hội viên. Do vậy đến 17/4/2004 Hội Người mù Việt Nam có tổ chức ở 41 tỉnh, thành; 304 quận, huyện, thị xã; 2561 ở phường xã với 42.352 hội viên.

Công tác lao động sản xuất tiếp tục được duy trì, đặc biệt trong tình hình Chính phủ chuyển công tác quản lý vốn quốc gia hỗ trợ việc làm từ Kho bạc Nhà nước sang Ngân hàng chính sách xã hội, TW Hội đã kịp thời nắm bắt chủ trương, chỉ đạo các cấp Hội làm tốt công tác bàn giao vốn để thực hiện chỉ tiêu kế hoạch đã đề ra.

Đến cuối năm 2003 toàn Hội đã giải quyết cho 5708 hộ gia đình hội viên vay với số tiền 13.173.550.000đ (trong đó 2.000.000.000đ là vốn mới của năm 2003 và 11.173.550.000đ là vốn xét duyệt vay lại.

Phát triển thêm 4 cơ sở sản xuất. Doanh thu của các cơ sở đã tăng đáng kể - đạt 16.346.885.000đ. Một số Thành, Tỉnh hội đạt doanh thu trên 1 tỷ đồng như: Thanh Hoá. Hà Nội, TP HCM, TT – Huế … Riêng thành hội Đà Nẵng đạt doanh thu 4.150.318.000đ. Lương bình quân của người lao động đạt 230.000đ/tháng. Với chủ trương đa dạng hoá ngành nghề, mở thêm nghề mới, các cấp hội đã mở 112 lớp dạy các nghề xoa bóp bấm huyệt, làm nấm rơm, nấm sò, nấm linh chi, dệt chiếu, đan lưới, chải tơ đay, đan mành tranh, đan làn nhựa, làm vành nón, làm hương … cho 1651 hội viên.

Ở năm đầu nhiệm kỳ chủ trương xóa nhà dột nát cho hội viên tiếp tục được đẩy mạnh. Với chủ trương làm nhà “Đại đoàn kết” cho người nghèo của UBTWMTTQVN, Trung ương Hội đã đề xuất và được Uỷ ban chấp thuận hỗ trợ cho Hội 40 ngôi nhà, giúp hội viên nghèo ở 40 Tỉnh, Thành hội mỗi ngôi trị giá 7.000.000đ. Các cấp Hội đã vận động làm 564 ngôi nhà tình thương với số tiền: 4.322.356.000đ, sửa chữa 481 nhà trị giá 1.483.000đ cho hội viên nghèo.

Vào các ngày 29,30 tháng 9/2003 tại Hà Nội và 20,21 tháng 10/2003 tại TP Hồ Chí Minh Trung ương Hội đã tổ chức hội nghị tổng kết 10 năm vay vốn Quỹ quốc gia hỗ trợ việc làm (4/1992 – 4/2002) và 5 năm XĐGN (1999 – 2003) tại diễn đàn hội nghị, một lần nữa các vị đại diện của Quốc hội, MTTQVN, Bộ LĐTB và XH khẳng định thành tích to lớn mà cán bộ, hội viên của Hội đã giành được trong công tác vay vốn và XĐGN.

Cùng với công tác lao động sản xuất, tăng cường chăm sóc đời sống cho hội viên, ngay năm đầu nhiệm kỳ, theo đề nghị của TW Hội, với Bộ Giáo dục Đào tạo, 24 Tỉnh, Thành hội đã nhận được kinh phí XMC ở các địa phương với tổng số tiền 457.000.000đ các cấp hội vận động thêm được, toàn Hội đã mở được 116 lớp XMC cho 1472 hội viên. 356 em đã đi học các lớp THN do các cấp Hội mở và 171 em đã được vào học hoà nhập ở các trường phổ thông.

Đặc biệt không chỉ học XMC, trong năm 2003 đã có 16 Tỉnh, Thành hội tổ chức cho hội viên được học tập, bình đẳng về pháp luật. Nhiều Thành, Tỉnh hội đã tổ chức cho cán bộ, hội viên học sử dụng vi tính, ứng dụng công nghệ thông tin vào công tác Hội.

Năm 2003 nhân những sự kiện thể thao lớn trong nước và khu vực, TW Hội đã đề nghị với ngành TDTT tạo điều kiện để người mù được tham gia thi đấu tại Đại hội thể thao những người khuyết tật Việt Nam và Paragame II, đồng thời hướng dẫn các cấp Hội cử vận động viên và người mù của 8 Tỉnh, Thành hội tham gia thi đấu. Riêng ở Paragame II anh chị em đã giành được trên 30 huy chương các loại trong đó có 12 huy chương vàng, đóng góp đáng kể vào thành tích của đoàn vận động viên khuyết tật Việt Nam.

Cùng với hoạt động thể thao, được sự giúp đỡ của Bộ VHTT, TW Hội đã phát động các Thành, Tỉnh hội tổ chức liên hoan “Tiếng hát từ trái tim” lần thứ II chào mừng 35 năm thành lập hội và ngày Đại đoàn kết dân tộc. Năm 2003 năm mở đầu của nhiệm kỳ VI cũng là năm kết thúc 1 thời kỳ 35 năm kiên trì, bền bỉ đoàn kết vượt mọi khó khăn vươn lên xây dựng Hội, xây dựng cuộc sống của mỗi cán bộ, hội viên.

35 năm đối với lịch sử là vô cùng ngắn ngủi, nhưng đối với Hội đã là cả một chặng đường phấn đấu rất gian khổ và cũng đầy vinh quang.

35 năm có tổ chức của mình, có sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước sự giúp đỡ của nhân dân, người mù đã loại bỏ được những đêm dài tưởng như vô tận. Người mù đã có điều kiện để ngẩng cao đầu – cất bước.

Hội Người mù Việt Nam mãi mãi là mái ấm, là chỗ dựa cho người mù vươn tới.

Hưởng ứng ngày cây gậy trắng quốc tế

Hưởng ứng ngày cây gậy trắng quốc tế

Bước ngoặt cuộc đời Bước ngoặt cuộc đời/

Khi sinh ra, đôi mắt tôi đã không được bình thường như bao đứa trẻ khác. Mặc dù vậy, đến tuổi đi học tôi vẫn được đến trường học tập, vui chơi cùng chúng bạn. Nhưng chỉ đến lớp 8 tôi đã phải nghỉ học...

Dám nghĩ – dám làm /

Mặc dù chịu cảnh mù lòa nhưng ông Lê Đình Vũ ở phường Hương Văn, thị xã Hương Trà tỉnh Thừa Thiên Huế không chỉ là tấm gương tiêu biểu trong hoạt động hội, mà còn được cộng đồng biết đến là người làm...

Nghị lực từ trái tim /

Trước khi kết nạp vào hội năm 2013 Nguyễn Kim Hoàng một chàng trai trẻ đầy nhiệt huyết – Tốt nghiệp cử nhân khoa Công nghệ thông tin của Viện Đại học Mở Hà Nội và là Võ sư Pencat Silat. Mất đi ánh...

Đại hội Đại biểu lần thứ IV Hội Người mù tỉnh Bắc Ninh Đại hội Đại biểu lần thứ IV Hội Người mù tỉnh Bắc Ninh/

Trong 2 ngày 24 - 25/10/2012, Hội Người mù tỉnh Bắc Ninh đã tổ chức Đại hội Đại biểu lần thứ IV, nhiệm kỳ (2012 - 2017). Đến dự có ông Đinh Thanh Tùng - Ủy viên Ban Thường vụ - Trưởng Ban Kiểm tra...

Giấc mơ và trăn trở của học sinh khiếm thị Giấc mơ và trăn trở của học sinh khiếm thị/

Kết thúc năm học 2012 – 2013, Chi hội người mù trường Phổ thông Chuyên biệt (PTCB) Nguyễn Đình Chiểu Đà Nẵng có 5 hội viên đã hoàn thành chương trình Trung học phổ thông và chuẩn bị bước vào giảng...

Đại hội đại biểu Hội Người mù lần thứ I Hội Người mù tỉnh Hậu Giang /

Ngày 26/11/2013 tại hội trường Thành ủy Vị Thanh, Hội Người mù tỉnh Hậu Giang đã tổ chức Đại hội đại biểu Hội Người mù lần thứ I, nhiệm kỳ 2013-2018